Phép màu ở phố 34

Nguyễn Tuấn Nghĩa

Dịp giáng sinh gần kề cũng là lúc các cửa hàng tổ chức các hoạt động quảng cáo và khuyến mãi. Dorey Walker, giám đốc sự kiện của cửa hàng Cole’s đang đau đầu tìm kiếm người đóng ông già Noel cho cửa hàng sau khi ông già Noel trước bị sa thải vì say rượu. Sau cùng cô cũng tìm được một người hoàn hảo trên phố: ông tự giới thiệu tên là Kris Kringle. Với sự hiền từ và nhân hậu của mình, ông Kris không chỉ khiến cho doanh thu của cửa hàng tăng mạnh, mà còn khiến cho gần như tất cả mọi người ở thành phố New York đều tin ông chính là ông già Noel thật. Tất cả, chỉ trừ bé Susan 6 tuổi, con gái của Dorey. Em nói với ông Kris rằng chẳng có ông già Noel nào hết. Em chỉ tin ông già Noel có thật nếu ông sẽ thực hiện cho em ba điều ước: em muốn có bố, có nhà mới, và có một bé em trai.

Kris Kringle – Ông già Noel của cả New York

Một ngày, có người trình báo với cảnh sát là bị “ông già Noel” tấn công, ông Kris ngay lập tức bị bắt. Vụ việc được đưa ra toà và nhanh chóng được thu xếp ổn thoả. Hoá ra vụ tấn công được dựng lên bởi ông già Noel cũ, do bị sa thải, nên muốn trả thù ông Kris. Nhưng một vấn đề mới nảy sinh. Luật của bang New York có một điều khoản ghi rõ:

“Người nào tưởng mình là ai đó, trong khi thực tế không phải như vậy, là người điên” (“A man who believes himself to be someone he isn’t is – by definition – insane.”)

Ông Kris vì thế có khả năng bị buộc phải chữa trị tâm thần. Dù vậy, ông vẫn tin rằng mình là ông già Noel, và trên thực tế, hàng trăm ngàn người dân New York cũng vậy: Họ biểu tình trước cửa toà án để ủng hộ “ông già Noel”. Các thẩm phán lúc này rơi vào tình huống khó xử. Họ không thể tuyên ông Kris là người không điên, đơn thuần chỉ vì dư luận đòi hỏi như vậy. Dorey và bạn trai cô, Bryan, vì vậy nhận lãnh một nhiệm vụ khó khăn: họ không những phải chứng minh ông già Noel có thật, mà còn phải chứng minh người đang ngồi trước mặt quan toà,  Kris, chính là ông.

Các thẩm phán trong câu chuyện kể trên có thể nói chính là những tín đồ của thuyết Luật học Hình thức (Legal formalism). Thuyết này được đặc trưng bởi bốn luận điểm chính: Việc xét xử phải được diễn ra một cách lý tính, logic; Luật pháp phải được áp dụng một cách cơ học, chính xác; Ngoài những gì được ghi trong luật ra, những yếu tố phần nào mang tính chủ quan như công bằng, lẽ phải, tốt, xấu, đều không liên quan; và phép suy luận diễn dịch (deductive reasoning) cần phải được áp dụng triệt để. Trong 4 luận điểm này, 2 luận điểm phía sau là minh hoạ rõ ràng của 2 luận điểm trước.

Phép suy luận diễn dịch còn được biết đến với tên ‘tam đoạn luận’, và phép này bao gồm 3 yếu tố: tiền đề, hiện tượng, và kết luận.[1] Hầu hết mọi bài toán chứng minh hình học ở cấp trung học cơ sở của Việt Nam đều sử dụng suy luận diễn dịch. Pythagoras đã chứng minh mọi tam giác vuông đều có tổng bình phương hai cạnh góc vuông bằng bình phương cạnh huyền (tiền đề). Ta thấy tam giác ABC vuông tại A (hiện tượng) nên ta biết chắc chắn AB2 + AC2 = BC2 (kết luận)

Định lý Pythagoras

Theo định nghĩa, người nào cho rằng mình là một người, trong khi không phải vậy trên thực tế, là người điên (tiền đề). Ông Kris cho rằng mình là ông già Noel, mà ông già Noel thì không có thật, nên ông không phải là ông già Noel (hiện tượng). Mà ông một mực tin như vậy, nên chắc chắn ông bị điên (kết luận).

Ngoài suy luận diễn dịch, những người theo trường phái luật hình thức còn cho rằng trong phòng xử án, thứ duy nhất cần được áp dụng là luật, chỉ luật mà thôi. Mọi thứ khác – dư luận, chỉ đạo của thủ trưởng, truyền thống cách mạng – là vô nghĩa, nếu luật không quy định. Quan điểm này trái ngược với Thuyết Hiện thực (Legal realism), trường phái cho rằng các bản án cần phải xét đến một số yếu tố như kinh tế, xã hội; hoặc thay vì áp dụng máy móc “chữ” của luật, cái cần áp dụng là “tinh thần của luật.”[3]

Giữa hai hệ thống pháp luật lớn nhất ngày nay: Dân luật (Civil law) và Thông luật (Common law), thì Dân luật áp dụng áp dụng lý luận này triệt để hơn, các nước theo dân luật về cơ bản chỉ công nhận luật thành văn là nguồn của luật. Song, ngay cả ở các nước theo thông luật, nơi các những gì được phán quyết bởi toà sẽ trở thành án lệ và là một nguồn của luật bên cạnh luật thành văn, thì các thẩm phán vẫn luôn coi công việc của họ đơn thuần là “diễn giải” luật (Interpretation of the law). Đơn cử như Chánh án Toà án Tối cao Hoa Kỳ John Roberts, khi được hỏi quan điểm của ông ra sao về vai trò của các thẩm phán, ông nói: “Các thẩm phán cũng như là các trọng tài trong thể thao. Các trọng tài không tạo ra luật, họ áp dụng chúng và bảo đảm mọi người đều chơi theo luật” (“Judges are like umpires. Umpires don’t make the rules, they apply them. The role of an umpire and a judge is critical. They make sure everybody plays by the rules”).[2]

Ta còn bắt gặp ở Trung Quốc hai môn đồ của legal formalism: Bao Thanh Thiên và Tào Tháo. Lý Phi bị Lưu Thái hậu hãm hại bị đuổi khỏi cung. Con của bà được Bát Hiền vương nhận nuôi, sau này thành Tống Nhân Tông. Nhờ sự trợ giúp của Bao Công, Triển Chiêu, Lý Phi được minh oan. Theo luật nhà Tống, người nào bỏ bê không phụng dưỡng cha mẹ thì bị tội bất hiếu. Lại cũng có luật ‘vương tử phạm pháp, trị tội như thứ dân’. Vua Nhân tông để mẹ phải lưu lạc giang hồ bấy nhiêu năm, lẽ ra bị phạt 20 trượng. Bao Thanh Thiên mới nghĩ ra “đả long bào”, đánh vào long bào cũng như đánh vua, bởi vậy mới tránh phạm vào long thể.

Tương tự, Tào thừa tướng khi hành quân, để mua chuộc lòng dân, mới ra lệnh cho quân sĩ không được đạp lên lúa của dân, bất kì ai phạm tội, tướng cũng như lính, đều sẽ bị chém đầu. Ngựa của Tào thừa tướng không may mất cương, giẫm xuống một thửa ruộng. Tào thừa tướng không thể nói rồi nuốt lời, bèn nghĩ ra cách: Cổ nhân cho rằng “Thân thể, tóc và da đều do cha mẹ ban cho”, bởi thân đang mang đại quân, “khuông phò Hán thất”, nên tạm “Cắt tóc thay đầu”, vừa giữ được mạng, lại mua chuộc được lòng quân.

Hai ‘legal formalist’ trong lịch sử Trung Quốc

Trường phái luật hình thức có một số điểm mạnh, ví dụ như đã đề cập ở trên, phần lớn các thẩm phán thuộc cả giới thông luật và dân luật đều cho rằng họ đang áp dụng luật, chứ không tạo ra luật. Mặc dù việc áp dụng máy móc như trên có thể tạo ra sự bất công, vì luật vốn không thể tiên lượng trước mọi tình huống, một số học giả như Frederick Schauer cho rằng đó là cái giá phải trả để ngăn các quan chức chính quyền, các thẩm phán, được tuỳ nghi lợi dụng sự chung chung của luật để tạo ra bất công.[4] Tuy nhiên, nghịch lý là nếu thực sự luật pháp đã rõ ràng đến mức các thẩm phán chỉ cần “áp dụng” luật, các bên đương sự đâu cần phải mang vấn đề ra toà ngay từ đầu. Chính vì luật còn những phần chưa rõ ràng, nên mới cần các thẩm phán làm rõ, và việc họ ‘làm rõ’ hay ‘diễn giải luật’ này chính là lấp vào những lỗ hổng của luật, trên thực tế chính là ‘tạo ra’ luật.

Ở cuối phim, bé Susan đến toà ngay lúc thẩm phán chuẩn bị tuyên án. Em đưa cho thẩm phán tờ tiền $1 có dòng “In God we trust.” Bởi vì Bộ Tài chính Hoa Kỳ không cần một bằng chứng xác thực nào để tin vào Chúa, Toà cho rằng cũng chẳng cần chứng cứ để chứng minh sự tồn tại của ông già Noel, vụ việc bị bãi bỏ.

Bé Susan mừng rỡ về nhà. Sáng ngày Giáng sinh, Susan ngạc nhiên khi nhìn thấy nhẫn đính hôn của mẹ và chú Bryan, đồng nghĩa với việc chú Bryan sẽ là người cha mới của em. Mọi người cũng phát hiện ra ông Kris đã sắp xếp để Dorey và Bryan mua lại căn nhà mà giờ đây Dorey và Bryan đã có đủ tiền mua, nhờ doanh số mà ‘ông già Noel’ đã mang thêm về cho cửa hàng. Vậy là hai điều ước của bé Susan đã được hoàn thành. Dorey hỏi con gái: “điều ước thứ ba của con là gì?” Em háo hức trả lời đó là một cậu em trai. Dorey và Bryan nhìn xuống bụng của Dorey rồi cùng trao cho nhau nụ hôn thắm thiết. Từ đó cũng không có ai nhìn thấy ông Kris nữa…

Vậy ông già Noel có thật không?


[1] Major premise, minor premise, conclusion. Ở Việt Nam, các khái niệm này được dịch lần lượt là ‘tiền đề lớn’, ‘tiền đề nhỏ’ và ‘kết luận’, song người viết cho rằng cách dịch này cứng nhắc và gây khó hiểu.

[2] Confirmation Hearing on the Nomination of John G. Roberts, Jr. to be Chief Justice of the United States Before the S. Comm. on the Judiciary, 109th Cong. 55 (2005) (statement of John G. Roberts, Jr., Nominee to be Chief Justice of the United States) https://www.judiciary.senate.gov/imo/media/doc/GPO-CHRG-ROBERTS.pdf

[3] Oliver Wendell Holmes, Jr, ‘The Path of the Law’ (1897) 10 Harv LR 457

[4] “[S]ometimes the language of a rule generates a bad result, and sometimes we have to live with that bad result as the price to be paid for refusing to empower judges or bureaucrats or police officers with the authority to modify the language of a rule in the service of what they think, perhaps mistakenly, is the best outcome.” – Frederick Schauer, ‘A Critical Guide to Vehicles in the Park’ (2008) 83 New York University Law Review 1109, 1128-9