Ở miền Nam, có một nhà trí thức yêu nước như thế

Nguyễn Tuấn Nghĩa

Ngày nay, khi nhìn lại lịch sử Việt Nam, thế kỉ XX thường được chúng ta nhìn nhận là thế kỉ của các cuộc chiến.[1] Nhiều người nhìn về quá khứ lầm tưởng rằng, học lịch sử là học về chiến tranh. Trái ngược lại, lịch sử là câu chuyện về những con người, có một số tham gia chiến đấu để giành lấy hoà bình, nhưng cũng có một số, không chiến đấu, nhưng giá trị của những thứ họ làm vẫn trường tồn. Bài viết này gửi đến bạn đọc chân dung Giáo sư Vũ Văn Mẫu, một con người tuy làm việc cho “nguỵ quyền” nhưng đạo đức, tài năng và lòng yêu nước vượt xa nhiều kẻ “yêu nước” hời hợt ngày nay.

Chân dung cố giáo sư Vũ Văn Mẫu, một bậc trí thức yêu nước đáng kính

Sơ lược về cuộc đời

Giáo sư Vũ Văn Mẫu thường được nhiều người biết đến là Thủ tướng cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hoà, dưới quyền Tổng thống Dương Văn Minh. Ông sinh ngày 25/7/1914 tại Quất Động, Thường Tín, Hà Tây trong một gia đình tư sản làm nghề thêu. Em trai ông là GS NGND Vũ Như Canh, một học giả lớn về Hoá Lý. Các ông cùng gia đình sớm di cư ra Hà Nội.

Vũ Văn Mẫu thi đỗ trường Bưởi, tiếp tục học Albert Sarraut rồi sang Pháp du học. Về Việt Nam, ông học tiếp bằng Cử nhân Luật ở trường Luật Hà Nội. Tốt nghiệp, ông thi đỗ Tri huyện rồi học song song Cao học Luật. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông âm thầm chuẩn bị luận án Tiến sĩ và bảo vệ thành công tại Đại học Paris năm 1948. Về nước, ông được mời giảng dạy tại Đại học Luật Hà Nội.

Năm 1954, sau Hiệp định Geneve, ông chuyển vào Sài Gòn, được bổ làm Chánh Nhất Toà Phá Án, giáo sư thực thụ, Trưởng khoa Luật trường Đại học Luật khoa Sài Gòn, kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Ngô Đình Diệm.

Nhân cách, đạo đức và lòng yêu nước

Mặc dù phục vụ cho “nguỵ quyền”, song lòng yêu nước và nhân cách của GS Mẫu thật đáng kính trọng. Năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm vướng vào bê bối đàn áp Phật giáo. Giáo sư Mẫu, trên cương vị là một thành viên nội các, đã hết sức can ngăn ông Diệm. Là một Phật tử, GS Mẫu đã cạo trọc đầu, lấy pháp danh là Minh Không, từ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nhằm phản đối các hành động của chính quyền. Hành động này của ông đã được nhiều sinh viên, trí thức hưởng ứng: họ cũng cạo đầu và tuyên bố ủng hộ tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng.

Nếu như ngày 30/4/1975 là ngày cáo chung của chế độ Việt Nam Cộng hoà, thì từ ngày 21/4, ‘chiến sĩ’, ‘trung tướng’ Nguyễn Văn Thiệu đã ‘sang Đài Loan viếng Tưởng Giới Thạch’, thực chất là đào tẩu. GS Mẫu đã chọn ở lại, nhậm chức Thủ tướng dưới quyền Tổng thống Dương Văn Minh. Ở những ngày cuối cùng của chế độ, nhận cái chức Thủ tướng này đâu có là vì tiền tài danh vọng, thậm chí còn mang lại nguy hiểm. Nếu không phải là vì trách nhiệm, trách nhiệm của một người trí thức thì là gì? Quả đúng như câu nói ‘Quốc gia hữu sự, sĩ phu hữu trách’. Ngày 29/4, văn phòng Chính phủ phát đi thông điệp từ Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, yêu cầu toàn bộ người Mỹ rút khỏi Sài Gòn ngay lập tức.

Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, ngày 30/04/1975 – Ảnh: Nhà báo Đậu Ngọc Đản

Thành tựu về giáo dục

Khi nước ta còn là một nước thuộc địa của Pháp, người Nam chịu nhiều sự bất bình đẳng trong cách đối đãi của Chính phủ Bảo hộ. Vậy mà cậu trai trẻ Vũ Văn Mẫu ngày ấy học liên tiếp hai trường Bưởi (trường Chu Văn An ngày nay) và trường Albert Sarraut (trường Trần Phú ngày nay) đã là một thành tích lớn. Ông được gia đình gửi sang Pháp du học ngành Luật tại Đại học Paris (nay là Paris 1 Panthéon – Sorbonne), một trường danh giá bậc nhất nước Pháp. Tốt nghiệp, cậu thanh niên Vũ Văn Mẫu lại tiếp tục học Cử nhân Luật tại Hà Nội, rồi học lên Cao học và thi Tri huyện. Thương tình vị Tri huyện trẻ hiếu học thường phải đạp xe từ Ninh Bình về Hà Nội mượn sách nghiên cứu, Thống sứ Bắc Kỳ đã chuyển ông về Đông Anh cho gần Hà Nội hơn. Ông đỗ liền hai bằng Cao học, trong đó có một bằng Cao học Kinh tế.

Sau Cách mạng, ông ở nhà âm thầm chuẩn bị luận án Tiến sĩ Luật và bảo vệ thành công năm 1948 rồi về dạy ở Đại học Luật Hà Nội. Năm 1951, ông lại sang Paris học và năm 1953 tiếp tục thi đỗ Thạc sĩ. Lưu ý là ở Pháp ngày đó, để được đi dạy tại các trường Trung học hoặc Đại học cần có bằng Thạc sĩ (Agrégé, khác với Masters). Các ngành văn học, khoa học, ngoại ngữ chỉ cần có bằng Cử nhân là được thi, còn muốn được giảng dạy Luật ở Đại học, cần phải có bằng Tiến sĩ mới được thi Agrégé. Do đó, có thể thấy, về học vấn, trình độ của GS Mẫu thật đáng ngưỡng mộ, ngay cả ngày nay cũng ít ai được như ông.

Thành tựu học thuật

Trên cương vị một người thầy, ông đã khiến cho sinh viên nhiều thế hệ thán phục vì vốn học vấn uyên thâm, thông kim bác cổ. Luật sư Lê Công Định thuật lại lời Tiến sĩ Võ Phúc Tùng, một học trò của GS, nói rằng khi TS Tùng còn đang xây dựng đề tài nghiên cứu về chủ đề ‘Les droits de la personne humaine sur son corps’ (tạm dịch: Quyền của con người trên thân thể của mình) đã mang đến nhờ GS Mẫu góp ý. Ông trả lời liền một mạch: “Tại sao anh lại chọn một công trình nghiên cứu khó khăn như thế? Lĩnh vực này không có nhiều tài liệu khảo cứu. Sau luận án tiến sĩ của Giáo sư Pháp André Decocq vào năm 1960 nhiều người muốn đào sâu thêm, nhưng hầu như không ai thành công với đề tài này. Anh phải thận trọng nếu không giới học giả Pháp sẽ chỉ trích anh.”[2] Nói rồi ông hướng dẫn TS Tùng tìm tư liệu cho một đề tài khác. Nên biết ngày đó, ở Đại học Luật khoa Sài Gòn, tuy thầy và trò cùng là người Việt, song luận văn và khảo cứu đều phải viết bằng tiếng Pháp và gửi sang Pháp bình duyệt.

Trong phạm vi học thuật, danh tiếng của một học giả phụ thuộc vào các công trình nghiên cứu của ông ta, nếu không có tính thực tiễn trực tiếp, thì cần phải là cơ sở cho các nghiên cứu khác phát triển thêm, thể hiện ở lượng trích dẫn (citations) của nghiên cứu đó. Nhiều nghiên cứu mang tính cơ sở của các ngành, hàng chục năm sau vẫn được dẫn lại, do giá trị của nó là quá lớn. Sở dĩ nền luật học Việt Nam nói riêng và khoa học xã hội Việt Nam nói chung còn nhiều hạn chế là bởi, các công trình nhà khoa học trong nước viết ra, phần lớn là ‘ta viết cho ta đọc’. Công trình của GS Vũ Văn Mẫu đã được tham khảo trong tác phẩm kinh điển về Luật so sánh: “Major Legal Systems in the World Today” của René David, cho thấy sự công nhận mà các học giả quốc tế dành cho ông.

Lòng kính trọng và ngưỡng mộ GS Mẫu của cá nhân tôi nảy sinh trong khi tôi thực hiện một khảo cứu về Cổ luật Việt Nam. Luật pháp của từng thời kỳ, từng triều đại được GS Mẫu bình giảng trong cuốn “Cổ luật Việt Nam” dưới các góc độ: luật gia đình, hình luật, luật nghĩa vụ và khế ước, luật tài sản, luật hôn sản, luật thừa kế. Đặc biệt, mặc dù đã dày công tìm hiểu các tài liệu, tiếng Anh lẫn tiếng Việt, song các tài liệu cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt tôi tìm được đều không có tài liệu nào lý giải hình phạt “biếm tư”.[3] Tài liệu duy nhất giải thích khái niệm này chính là cuốn ‘Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử’ (tập 2) của GS Mẫu, và diễn giải rất chi tiết khiến tôi biết ơn vô hạn. Từng trang sách đều thể hiện sự tâm huyết, dày công nghiên cứu cũng như vốn hiểu biết sâu rộng, am tường cả Tân học lẫn Cựu học, các thứ tiếng Việt, Hán, Pháp, Anh, Latin.

Kết

Cuối cùng, thay lời kết, trân trọng gửi đến bạn đọc một trích đoạn nói về nguồn gốc Cổ pháp Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong sách “Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử”

Khảo cứu “Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử” – GS Vũ Văn Mẫu

Pháp luật bất luận của quốc gia nào cũng phải phản chiếu dân tộc tính, nhất là đối vưới định chế liên hệ đến gia đình và xã hội. Nếu quả thật dân tộc Việt Nam chỉ là một ngành hậu duệ của một nước Việt chư hầu của Trung Hoa dã di cư xuống phương Nam, thì hà tất còn là một đối tượng quan trọng để nghiên cứu, vì đã mang nặng từ trong bản chất các sắc thái và tinh thần của Cổ luật Trung Hoa.

Nếu trái lại dân tộc Việt Nam ngay từ nguyên thuỷ đã sinh trưởng tự chủ trên địa bàn đất nước này, đã biết anh dũng chống trả lại các làn sóng di cư hay xâm lăng […] thì những trang Cổ luật Việt Nam chính là những trang sử vinh quang gi chép sức sống dũng mãnh của các chế độ gia đình và xã hội […] các phong tục lành mạnh của dân tộc mà chúng ta cần phải tìm hiểu. Đó là gia tài tinh thần quý báu của tổ tiên mà chúng ta phải duy trì và phát huy tích cực […]. Cuộc tiếp xúc với các nền văn minh khác chỉ có thể là một phương pháp phong phú hoá bản chất dân tộc và không phải là con đường nô lệ để từ khước gia tài tinh thần của tổ tiên và các truyền thống tốt đẹp, nhất là trong lãnh vực pháp luật và các định chế pháp lý.

Lần đầu tiên chữ “Việt” xuất hiện chính thức trong quốc hiệu nước ta là dưới thời nhà Triệu. Sau khi chiến thắng An Dương Vương (208 TCN) […] Triệu Đà tự xưng là Triệu Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung, đặt quốc hiệu là Nam Việt. Lý do nào đã thúc đẩy Triệu Đà chọn quốc hiệu Nam Việt? Phải chăng vì dân tộc Việt đã sinh trưởng ở trên địa bàn này từ trước, nên Triệu Đà đã căn cứ vào sự kiện ấy để đặt quốc hiệu? Hoặc giả trong sự lựa chọn quốc hiệu này, Triệu Đà đã muốn nhấn mạnh vào tính cách độc lập của quốc gia mới đối vưới nhà Tần cũng như tính cách dị biệt của Nam Việt đối với Hán tộc?

Nguồn gốc dân tộc Việt chúng ta ở đâu? Lần dở các trang sử cũ của ta và của Tàu, ta thấy có nhiều đoạn nói đến nước Việt Thường sang cống nhà Châu bên Tàu, hay nước Ngô Việt của Câu Tiễn sinh hoạt ở miền Nam sống Dương Tử trong khi Hán Tộc chỉ phát triển ở miền Bắc con sông này. Việt Thường, Ngô Việt và Bách Việt có liên hệ gì đến dân tộc Việt Nam trong lịch sử chăng? Dân tộc Việt vẫn sinh trưởng trên địa phận Bắc Việt và Hoa Nam hiện tại, hay do những làn sóng di cư từ nơi khác đưa lại?

Suy luận theo các tài liệu được ghi chép trong các sử sách, hoặc căn cứ vào những di tích khai quật được ở dưới đất cũng như xương người, các đồ bằng đá, bằng đồng hay bằng đất, bằng sành, các học giả đã đưa ra nhiều giả thuyết liên quan đến nguồn gốc các lớp người đã sinh trưởng trên địa bàn nước Việt Nam từ trước khi có lịch sử.

Tuy các lý thuyết này có rất nhiều, trong chương này chúng tôi chỉ duyệt xét đến bốn lý thuyết được coi là chính yếu:

  1. Lý thuyết của Leonard Aurousseau về cuộc di cư của người U Việt hay Ngô Việt sang Âu Lạc
  2. Lý thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của ngời Mân Việt sang Âu Lạc
  3. Lý thuyết của các học giả Đào Duy Anh và Hồ Hữu Tường về sự di cư do thời tiết
  4. Lý thuyết trong khoa khảo Cổ học về nguồn gốc và diễn tiến dân tộc

[1] ba cuộc Chiến tranh Đông Dương, còn được biết đến với các tên gọi lần lượt là Kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), Kháng chiến chống Mỹ (1955 – 1975), Chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc (1978 – 1979)

[2] Lê Công Định, “Tưởng niệm Giáo sư Vũ Văn Mẫu”, Ái hữu Luật khoa, 2014

[3] Xem bài “AV Dicey về Pháp quyền”, mục “Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật”