AV Dicey về Pháp quyền

Nguyễn Tuấn Nghĩa

Một người không thể bị trừng phạt về thân thể hoặc tài sản trừ khi người đó đã vi phạm một quy định ghi rõ ràng trong luật. Theo nghĩa này, nhà nước pháp quyền tương phản với mọi thể chế nhà nước dựa trên sự thực hành quyền lực rộng rãi, độc đoán của cá nhân

AV Dicey, Dẫn nhập về Hiến luật (Introduction to the Study of the Law of the Constitution)

Việt Nam hiện nay đang cố gắng xây dựng một nhà nước ‘pháp quyền xã hội chủ nghĩa’. Pháp quyền cũng là mục tiêu mà tất cả các nhà nước trên thế giới đang cố gắng hướng tới, tuy nhiên, cách hiểu về ‘pháp quyền’ đến nay còn chưa thống nhất. Qua bài viết này, chúng tôi mong muốn cung cấp cho bạn đọc một cách hiểu sơ lược về tư tưởng pháp quyền dưới góc nhìn của công pháp của học giả Albert Venn Dicey. Bài viết lập luận rằng mặc dù có một số khác biệt, các học giả công pháp đều công nhận rằng có một số đặc điểm của pháp quyền là các giá trị phổ quát.

Theo dõi bộ phim ‘Sinh tử’ mới kết thúc gần đây trên VTV1, ta thấy câu nói được Bí thư Văn Thành Nhân lặp lại nhiều nhất chính là: “Phải làm đúng quy định của pháp luật”. Trên thực tế, đây chính là nền tảng của tư tưởng pháp quyền (rule of law).

‘Phải làm đúng theo quy định của pháp luật’ – Bí thư Văn Thành Nhân (Phim Sinh tử – VTV)

Albert Venn Dicey: Người đặt nền móng cho nghiên cứu công pháp

Albert Venn Dicey là một luật sư, luật gia người Anh, giáo sư Đại học Oxford, thường được coi là một trong những học giả hàng đầu về công pháp và luật hiến pháp. Tác phẩm để đời của ông, Dẫn nhập về Hiến luật (Introduction to the Study of the Law of the Constitution) trong một thời gian dài được coi là cuốn sách giáo khoa về công pháp cho hầu hết sinh viên luật ở Anh. Ngay cả ngày nay, Dicey và tư tưởng của ông vẫn thường xuyên được trích dẫn trong các bài giảng và được coi là nền tảng cho hầu hết các học phần của bộ môn này.

GS Albert Venn Dicey, ‘Newton’ của Hiến luật (Ảnh wikipedia)

Dicey được coi là một trong những người đầu tiên đề cập đến tầm quan trọng của pháp quyền đối với Hiến pháp nước Anh. Quan điểm của ông về pháp quyền được thể hiện rõ rệt nhất trong câu:

Một người không thể bị trừng phạt về thân thể hoặc tài sản trừ khi người đó đã vi phạm một quy định ghi rõ ràng trong luật. Theo nghĩa này, nhà nước pháp quyền tương phản với mọi thể chế nhà nước dựa trên sự thực hành quyền lực rộng rãi, độc đoán của các cá nhân.

(AV Dicey – Introduction to the Study of the Law of the Constitution)

Luật cần phải được thông qua theo đúng trình tự và thủ tục

Theo nguyên tắc thẩm quyền tối cao của Nghị viện, ở Anh, do Nghị viện là cơ quan duy nhất do dân bầu và đại diện cho ý chí của nhân dân nên đây cũng là cơ quan duy nhất có quyền ban hành luật. Luật do Nghị viện ban hành có thẩm quyền tối cao, bất cứ cơ quan nào cũng không thể phủ quyết luật, kể cả toà án. Điều này khác với một số thể chế khác như Mỹ, nơi cho phép nhánh tư pháp tuyên bố các đạo luật của Quốc hội là không hợp lệ nếu như các đạo luật này trái với Hiến pháp (vi hiến) thông qua cơ chế ‘tài phán hiến pháp/tư pháp’ (judicial review/constitutional review).

Nguyên tắc nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, trong khi người dân được phép làm những gì không cấm

Đây là nguyên tắc được công nhận rộng rãi, là một giá trị phổ quát. Ngay từ thế kỷ 18, toà án thông luật Anh, qua án lệ Entick kiện Carrington, đã công nhận rằng, cơ quan công quyền cần phải chỉ rõ cơ sở hợp pháp cho mọi hành động của mình. Và bởi vì nhà nước có nghĩa vụ chỉ ra cơ sở ấy, chính quyền chỉ có thể làm những gì luật pháp ghi rõ là nó có thể làm.

Đi kèm với nghĩa vụ này chính là yêu cầu về hình thức của luật hành chính: Các điều luật trao quyền cho cơ quan nhà nước cần phải rõ ràng, nhằm ngăn ngừa việc các cơ quan này diễn giải pháp luật một cách chung chung nhằm thực thi quyền lực một cách độc đoán.

Ngược lại, người dân có thể bất kì điều gì pháp luật không cấm. Nguyên tắc này xuất phát từ sự tôn trọng quyền tự do cá nhân, mà sâu xa hơn chính là thuyết tự do có nguồn gốc lâu đời ở Anh. Trong cuốn Nhập môn, Dicey đã ghi nhận rằng, tự do cá nhân (individual liberty) ‘không phải là một đặc quyền, mà xuất phát từ luật pháp thông thường (ordinary law of the land) và được bảo vệ bởi Toà án’. Ông đã đúng. Bằng chứng là trong án lệ Wheeler kiện Hội đồng Thành phố Leicester, Thẩm phán Brown-Wilkinson đã công nhận tư tưởng của Dicey:

Các quyền hiến định cơ bản ở đất nước này như quyền tự do an toàn thân thể và tự do ngôn luận của một người không phải được tạo ra bởi bất kì điều luật nào, mà chỉ bị giới hạn bởi những điều anh ta/cô ta không được làm, ghi rõ trong luật pháp. Những quyền tự do cơ bản này không phải được ban cho bởi luật thực định (positive law); chúng tồn tại vì [chúng] được bảo vệ khỏi sự can thiệp bởi người khác’

Nguyên tắc ‘vô luật bất thành hình’ (Nulla poena sine lege)

Đây cũng là một nguyên tắc được hầu hết các hệ thống tư pháp trên thế giới công nhận. Một người không thể bị trừng phạt vì những gì anh ta đã làm, nếu như điều đó không bị cấm trong luật. Bởi thế mà ngay cả trong những nhà nước phi dân chủ nhất, áp bức nhất, nhà cầm quyền vẫn phải cố hợp thức hoá những hành vi áp bức dân chúng bằng những mệnh lệnh ‘đúng luật’, ít nhất là về mặt hình thức. Ví dụ như dưới thời Đức Quốc xã, sự diệt chủng của chính quyền Hitler đối với người Do Thái bắt đầu bằng việc thông qua Đạo luật Cho quyền (Enabling Act 1933) nhằm sửa đổi Hiến pháp, trao cho Nội các và Quốc trưởng Đức quyền ban hành luật mà không cần thông qua Quốc hội, tiếp nối là Đạo luật Nuremberg nhằm phân biệt đối xử người Do Thái.

Tuy nhiên, cách hiểu này còn hạn chế, và bản thân Dicey cũng nhận thức rõ điều này. Nếu nghị viện là tối cao, và không ai có thể bị trừng phạt nếu hành vi của họ không bị pháp luật cấm đoán, toà án nên cư xử ra sao đối với các đạo luật có hiệu lực hồi tố? Nếu hôm nay tôi ăn bánh sừng bò, ngày mai Nghị viện tuyên bố: Bất cứ ai ăn bánh sừng bò từ trước đến nay đều vi phạm pháp luật và bị phạt tù 10 năm, liệu tôi có thể bị trừng phạt hay không? Liệu một đạo luật như vậy có được gọi là nằm trong khuôn khổ pháp quyền hay không?

Điều thú vị là ngay từ thế kỷ thứ 15, triều đình vua Lê Thánh Tông đã nhận thức được nguyên tắc này và thể hiện nó trong Bộ luật Hồng Đức. Plawsible rất mong sẽ có dịp được gửi đến bạn đọc kĩ hơn về vấn đề này trong các bài viết tới

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

Để hiểu rõ điều này, ta cần phải so sánh pháp quyền trong mối tương quan với luật pháp dưới thời phong kiến. Luật pháp thời phong kiến công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội, thông qua hệ thống thứ bậc. Đọc bộ luật Hồng Đức, người đọc dễ dàng bắt gặp hình phạt biếm tư, ví dụ:

Điều 89: Trước sau ngày hoàng đế lên ngôi một tháng, cấm các nhà ở trong kinh thành cử hành việc tang, người nào phạm thì phạt 50 roi, biếm một tư. (Quốc triều Hình luật – Bộ luật Hồng Đức)

Theo giáo sư Vũ Văn Mẫu, luật pháp thời phong kiến chia xã hội thành các giai tầng/đẳng cấp khác nhau, tương ứng với số ‘tư’. Cao nhất là Quốc công (24 tư); thứ nhì đến Quận công (23 tư). Thấp nhất là bạch đinh, tức người thường (vô tư). Luật nhà Lê cho phép người bị biếm được chuộc tiền. Như vậy, có thể thấy, tầng lớp quý tộc, vốn được hưởng lợi từ hệ thống giai cấp nay lại càng được lợi, trong khi người dân thường, vốn là tầng lớp khổ cực nhất trong xã hội, do không hề có ‘tư’, bắt buộc phải chuộc bằng tiền. Ngoài ra, các vương công đại thần, con em các triều trước và các quý tộc còn được hưởng Bát nghị (Điều 3, Bộ luật Hồng Đức), được giảm nhẹ hoặc miễn truy cứu nhiều tội.

Hệ thống tư-trật dưới thời Lê – Sách Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử (GS Vũ Văn Mẫu)

Trong một nhà nước pháp quyền, điều này không xảy ra. Chỉ có một hệ thống luật duy nhất, áp dụng cho cả người thường lẫn quan lại. Khi một cá nhân vi phạm pháp luật, bất kể là ai, đều sẽ bị Toà án, không phải Uỷ ban Kiểm tra, xem xét và kết tội. Nhân thân tốt có thể là một tình tiết giảm nhẹ, do nó nói lên bị cáo là người lương thiện, không phải là một kẻ máu lạnh mất nhân tính, nhưng gia đình có truyền thống cách mạng hay không, không nên là một yếu tố được cân nhắc khi nghị án.

Nhận xét:

Có thể nói, cách hiểu của Dicey về pháp quyền được hầu hết các học giả trên thế giới ngày nay công nhận. GS Joseph Raz (ĐH Oxford), GS Lon Fuller (ĐH Harvard), Thẩm phán Bingham (Toà án Tối cao Anh), bất chấp những bất đồng về quan điểm của họ, đều đồng ý rằng những yếu tố kể trên là thiết yếu trong một nền pháp quyền. Tuy nhiên, Fuller và Bingham cho rằng, cách hiểu của Dicey đúng nhưng chưa đủ. Bingham đặt câu hỏi: Liệu một hệ thống, nơi luật pháp được ban hành bởi Nghị viện, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, nhà nước chỉ trừng phạt công dân khi họ vi phạm pháp luật, nhưng cái-gọi-là-pháp-luật ấy lại dựa trên một nền tảng đàn áp quyền con người, liệu hệ thống ấy có được gọi là pháp quyền hay không? Bingham cho là không. Tất nhiên, rất khó để đưa ra một danh sách đầy đủ những thứ gọi là quyền con người, nhưng ông cho rằng pháp quyền còn cần phải bảo vệ được các giá trị phổ quát, như quyền an toàn cơ thể, quyền tự do ngôn luận, quyền tài sản …

Kết luận, mặc dù còn một số hạn chế tư tưởng của Albert Venn Dicey về pháp quyền chính là nền tảng cho hầu hết các nghiên cứu sau này, trong phạm vi công pháp nói chung và về pháp quyền nói riêng.