COVID-19 – Ai phải chịu trách nhiệm cho tình hình hiện tại của nước Anh? (Kì 2)

Nguyễn Tuấn Nghĩa

RỦI RO THẤP VỚI CỘNG ĐỒNG?

Khi tin tức cho thấy một căn bệnh truyền nhiễm đang lây lan ở Trung Quốc, Johnson có đầy đủ lí do để tin rằng nước Anh đã chuẩn bị đầy đủ. Nước Anh có các nhà khoa học hàng đầu thế giới, và một kịch bản được diễn tập thành thục để đương đầu với một đại dịch chết người. Có lẽ, một số nhà khoa học phỏng đoán, chính kịch bản này làm cho Anh thích ứng chậm với tình hình.

Trong nhiều năm, Nội các – một nhóm các quan chức chính phủ đóng vai trò như cánh tay nối dài của Thủ tướng để điều hành đất nước – đã đánh giá dịch bệnh là mối nguy số một đối với đất nước, nguy cơ còn cao hơn cả khủng bố và khủng hoảng tài chính.

Đầu não của việc hoạch định chính là một nhóm các nhà khoa học, mà Edmunds là một trong số đó. Ông và nhóm nghiên cứu của mình tại Trường Vệ sinh và Bệnh Nhiệt đới Luân Đôn vận hành hai trung tâm nghiên cứu mô hình dự báo dịch bệnh, từ đó làm cơ sở cho hầu hết các quyết sách của chính quyền. Một trung tâm khác nằm ở Đại học Imperial ở gần đó. Edmunds nhớ lại rằng ngay từ đầu cuộc bùng phát, dữ liệu từ Trung Quốc vẫn còn rất sơ sài, còn “nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn cố làm ra vẻ như bệnh này không thể lan truyền từ người sang người”

Edmunds và đồng nghiệp của ông, Neil Ferguson, đều là những thành viên của các hội đồng cố vấn chủ chốt cung cấp khuyến cáo đến các cơ quan giúp việc cho Thủ tướng. Cả hai ông đều là những thành viên sáng lập của hội đồng xây dựng mô hình dịch tễ gọi tắt là SPI-M. Chính hội đồng này là tác giả của bản báo cáo ngày 2/3 cảnh báo rằng sẽ có hơn 500,000 người tử vong. SPI-M đã được thành lập và bắt đầu hoạt động từ cách đây 15 năm.

Ferguson đã không phản hồi đề nghị phỏng vấn từ Reuters.

Edmunds và Ferguson cũng đều là thành viên của NERVTAG (New and Emerging Respiratory Virus Threats Advisory Group – Tổ tư vấn về các bệnh đường hô hấp truyền nhiễm mới nổi). Cả hai ông cũng là thành viên của Tổ tư vấn Khoa học trong các Tình huống Khẩn cấp (Scientific Advisory Group for Emergency), viết tắt là SAGE với nhiệm vụ chính là cố vấn cho chính quyền vào những tình huống khủng hoảng. SAGE hoạt động báo cáo trực tiếp với Thủ tướng Johnson và Hội đồng ứng phó khủng hoảng COBRA.

Mô tả ‘bộ chỉ huy’ chống dịch của Anh (Ảnh: Plawsible)

Khi nghiên cứu bản ghi các cuộc họp của NERVTAG, Reuters nhận thấy trong cuộc họp ngày 13/1, sau khi xem xét các dữ liệu từ Trung Quốc, tổ tư vấn này đã kết luận rằng “không có bằng chứng về việc lây nhiễm đáng kể từ người sang người” đối với virus này. Các nhà khoa học đã nhất trí rằng rủi ro đối với nước Anh là “rất thấp”.

Các chứng cứ nhanh chóng thay đổi, nhưng điều này không được thể hiện ở mức cảnh báo chính thức. Cho đến cuối tháng 1, các nhà khoa học Trung Quốc bắt đầu công bố các số liệu lâm sàng. Các ca bệnh được công bố ở một tạp chí Y khoa của Anh, tạp chí The Lancet, cho thấy 17% của 99 ca bệnh đầu tiên nhiễm virus corona đòi hỏi chăm sóc tích cực. 11 bệnh nhân đã chết. Một nghiên cứu khác từ Trung Quốc, cũng được xuất bản trong tạp chí trên, cảnh báo một cách thằng thừng về một sự lây nhiễm toàn cầu và thúc giục: “Các kế hoạch chuẩn bị và can thiệp nhằm giảm nhẹ tác hại của virus cần phải được sẵn sàng điều động trên quy mô toàn cầu”

Edmunds nhớ lại rằng “Từ khoảng giữa tháng 1 trở đi, mọi thứ đã trở nên rõ rành rành rằng sự việc sẽ trở nên rất, rất nghiêm trọng.” Graham Medley, một giáo sư về mô hình bệnh truyền nhiễm ở Đại học London, cũng là chủ tịch của SPI-M, cũng đồng tình với phát biểu trên. Ông nói cho biết toàn bộ tổ tư vấn đều chắc chắn, ngay từ buổi họp đầu tiên, rằng mọi chuyện sẽ trở nên rất phức tạp. Vào cuối tháng 1, tổ tư vấn mà ông đứng đầu đã chuyển sang chế độ “thời chiến” và báo cáo trực tiếp lên SAGE.

Tiến sĩ Jon Read, giảng viên cấp cao về sinh học thống kê tại Đại học Lancaster, một thành viên khác của SPI-M, nói rằng đến cuối tháng 1, rõ ràng là virus đã có “tiềm năng trở thành đại dịch”, và tỉ lệ tử vong đối với người già sẽ trở nên tàn khốc. “Dưới quan điểm một nhà xây dựng mô hình dự báo, tất cả mọi người đều biết rằng mọi chuyện có khả năng sẽ trở nên rất tệ”, ông nói.

Nhưng các nhà khoa học đã không mối lo này một cách rõ ràng đến Chính phủ, các bản ghi cuộc họp cho thấy.

Vào ngày 21/1, các nhà khoa học trong NERVTAG thống nhất nâng mức cảnh báo COVID-19 từ “rất thấp” lên “thấp”. SAGE họp buổi đầu tiên vào ngày tiếp theo về nguy cơ của virus corona. Dưới sự chủ trì của Matt Hancock, Bộ trưởng Bộ Y tế, người sau này cũng bị nhiễm virus vào cuối tháng 3, COBRA cũng được triệu tập. Ông trả lời phóng viên sau buổi họp rằng: “Các khuyến cáo chuyên môn cho thấy rủi ro đối với cộng đồng vẫn đang ở mức thấp.”

Phản hồi chất vấn từ Reuters, Bộ Y tế từ chối làm rõ về định nghĩa các mức cảnh báo và phản ứng chính xác của nhà chức trách ở mỗi mức cảnh báo. Trong một phát biểu chính thức, người phát ngôn bộ này cho biết: “Việc nước Anh nâng mức cảnh báo là một động thái đảm bảo nhằm cho phép Chính phủ lập kế hoạch cho mọi kịch bản trong tương lai.”

Hai ngày sau, Trung Quốc phong toả hoàn toàn Vũ Hán, nơi đại dịch bùng phát, và sau đó là tỉnh Hồ Bắc. Song, đến thời điểm đó, đã có khoảng 17 chuyến bay chở khách từ Vũ Hán (bay thẳng) và 614 chuyến bay khác từ khắp các vùng của Trung Quốc đến Anh tính từ đầu năm 2020, theo số liệu từ FlightRadar24, một dịch vụ định vị hàng không. Điều đó có nghĩa là hàng ngàn người Trung Quốc, một số là các nguồn bệnh tiềm năng, đã đặt chân đến nước Anh. Vào ngày 5/4, cố vấn khoa học Ferguson nói ông ước tính chỉ có một phần ba những người nhiễm virus đến Anh được phát hiện.

Trong khi quan sát chính sách phong toả của Trung Quốc, các nhà khoa học Anh đã mặc định là những hành động quyết liệt như vậy sẽ không bao giờ có thể được chấp nhận ở một nền dân chủ như nước Anh. Ngay cả trong số các nhà xây dựng mô hình dự báo, những biện pháp cứng rắn như vậy, trong giai đoạn đầu, cũng không được họ nghĩ đến.

“Dân chủ” là một trở ngại đối với phản ứng chống dịch? (Ảnh: Điện Westminster, toà nhà Quốc hội Anh, một trong những mô hình dân chủ tiên tiến nhất thế giới)
Nguồn: parliament.uk

“Chúng ta chỉ có một số biện pháp can thiệp nhẹ hơn”, Edmunds nói, bởi vì không ai có thể nghĩ rằng việc “đóng cửa cả nước” là một điều khả thi về mặt chính trị. Ông nói thêm: “Chúng tôi không đưa các biện pháp này vào mô hình dự báo vì có vẻ như nó không nằm trong chương trình hành động. Đại học Imperial cũng không nghĩ đến chuyện đó.” NERVTAG đồng ý, theo như các bản ghi, rằng các biện pháp cứng rắn trong ngắn hạn cũng là vô ích, bởi chúng “chỉ làm chậm sự bùng phát chứ không ngăn chặn nó.”

Theo một chính trị gia cấp cao thuộc Đảng Bảo thủ, người đã từng đảm nhận một số công vụ trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng, việc chính những nhà khoa học và chuyên viên xây dựng kịch bản phòng chống cúm mùa lại tham gia phòng chống virus corona đã hình thành trong họ một dạng “định kiến nhận thức” (cognitive bias)

“Trong đầu chúng tôi cứ nghĩ rằng cần phải đối phó với COVID-19 như một bệnh cúm mùa bẩn thỉu”, ông nói. “Chúng tôi nghĩ rằng căn bệnh này không thể bị ngăn chặn và sau cùng thì nó cũng không chết người đến vậy”

Trong khi nước Anh đang chuẩn bị đối phó với “dịch cúm mùa”, các nước châu Á như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore và Hàn Quốc đều đã xây dựng kịch bản phòng chống đại dịch dựa trên kinh nghiệm ứng phó với dịch SARS chết người hơn vào năm 2002, ông nói thêm. SARS có tỉ lệ tử vong lên đến 14%. Vì vậy, các nước này sẵn sàng hơn khi bước vào giai đoạn xét nghiệm rộng rãi hàng loạt, phong toả và nhiều biện pháp hà khắc khác nhằm ngăn virus lây lan trong cộng đồng.

Các nhà khoa học tham gia vào các quyết sách của nước Anh phủ nhận rằng kế hoạch đối phó với cúm mùa ảnh hưởng đến phân tích của họ về COVID-19. Kế hoạch này đã có một “kịch bản xấu nhất” phù hợp với dự đoán xấu nhất về COVID-19, các nhà khoa học cho biết.

Mark Woolhouse, một giáo sư về dịch truyền nhiễm của Đại học Edinburgh, cũng là thành viên của SPI-M, nói rằng COVID-19 đã hành xử khác so với dự đoán về một đại dịch cúm – ví dụ như đóng cửa trường học đã được chứng minh là rất kém hiệu quả trong việc làm chậm đi sự lây lan của virus corona. Nhưng, rộng hơn, “Chính phủ đã thường xuyên cập nhật các biện pháp của mình phù hợp với diễn biến của dịch.”

Theo ít nhất hai nguồn tin đáng tin cậy, đến cuối tháng 1, ông Whitty, cố vấn trưởng về y tế đã giải thích riêng cho các quan chức rằng nếu như virus vượt khỏi Trung Quốc, sớm muộn nó cũng sẽ lây nhiễm cho đại đa số mọi người ở Anh. Ta chỉ có thể làm chậm chân, chứ không thể ngăn chặn nó. Ngày 30/1, Chính phủ nâng mức cảnh báo từ “thấp” lên “trung bình.”

Các quan chức y tế của nước Anh “nghĩ rằng cần phải thận trọng, gia tăng từ từ mức độ chuẩn bị phòng trường hợp sẽ có một đợt bùng phát khác mạnh mẽ hơn”, một thông báo chính thức cho biết. Ông Whitty đã không phản hồi đề nghị phỏng vấn của Reuters để phục vụ bài viết này.

THỜI KHẮC CHUẨN BỊ

Buổi tối ngày 31/1, Boris Johnson ngồi trước lò sưởi ở số 10 phố Downing nói với người dân Anh qua truyền hình “Đây chính là một bước ngoặt, một giai đoạn bản lề trong chương trình hành động của nước ta.”

Thực ra ông đang nói về Brexit, hay như ông gọi là “sự giành lại chủ quyền [từ châu Âu].” Cho đến lúc ấy, nhiệm kì Thủ tướng của Johnson đã gần như tập trung hoàn toàn vào việc giải quyết điều này.

Khi Brexit xong xuôi, Johnson sẽ có cơ hội để tập trung vào những thứ khác trong tháng sau, trong đó có việc giải quyết căn bệnh mới nổi. Nhưng đây cũng là lúc cho thấy hậu quả của việc rời Liên minh Châu Âu (EU).

Giữa ngày 13/2 và ngày 30/3, nước Anh đã bỏ lỡ tổng cộng tám cuộc họp trực tiếp hoặc trực tuyến với các lãnh đạo châu Âu ở cấp nguyên thủ và cấp bộ trưởng, trong khi nước Anh vẫn có quyền tham gia các cuộc họp này. Mặc dù Anh sau này đã sắp xếp để tham gia các cuộc họp ở cấp thấp hơn, nước này đã bỏ lỡ thời hạn tham gia một chương trình mua chung máy thở của các nước châu Âu, mặc dù đã được mời từ trước. Máy thở mang tính quan trọng sống còn trong việc điều trị các ca bệnh COVID-19 nặng nhất, nhưng lại bị thiếu hụt trong nguồn cung toàn cầu trong thời gian gần đây. Người phát ngôn của Thủ tướng Johnson đổ lỗi cho một trục trặc hành chính (administrative error).

Một trợ lý cấp cao ở Văn phòng Thủ tướng nói với Reuters rằng từ khoảng cuối tháng 1, Thủ tướng Johnson ngày một tập trung hơn vào hiểm hoạ từ virus corona. Ông nhận được “rất thường xuyên” các cập nhật, ít nhất một lần một ngày từ giữa tháng 2, hoặc được cấp dưới báo cáo trực tiếp, hoặc thông qua một bảng thống kê được cập nhật hàng ngày.

Trong giới khoa học và y tế, mối lo về sự đe doạ của virus ngày một gia tăng. Báo cáo ngày 12/2 từ Đại học Exeter (Anh) cảnh báo rằng COVID-19 có thể bùng phát và đạt đỉnh trong vòng bốn tháng, và nếu như không có các biện pháp can thiệp, có thể lây nhiễm đến 45 triệu người.

Ông Rahuleb Sarkar, một bác sĩ tư vấn chuyên khoa hô hấp và chăm sóc tích cực ở hạt Kent, đã thấy trước rằng các giường bệnh chăm sóc tích cực sẽ nhanh chóng bị lấp đầy. Trong một báo cáo gửi đến các bác sĩ lâm sàng và các chuyên gia thống kê và trung tuần tháng 2, ông cảnh báo rằng ngay cả khi mức lây nhiễm bị giảm xuống còn một nửa, việc virus corona bùng phát ở nước Anh sẽ “có thể làm quá tải toàn bộ hệ thống.”

Trong khi ông Whitty vẫn một mực khẳng định trong một cuộc phỏng vấn với đài BBC (13/2) rằng sự bùng phát ở nước Anh vẫn chỉ là “có khả năng chứ chưa chắc sẽ xảy ra” (still an if, not a when), Richard Horton, một bác sĩ y khoa và biên tập viên của tạp chí danh giá The Lancet, nói rằng chính phủ và hệ thống y tế công cộng đã lãng phí một cơ hội tốt vào tháng đó để chuẩn bị các biện pháp cách ly và một chương trình xét nghiệm trên diện rộng. Họ đáng lẽ ra cũng có thể chuẩn bị nguồn cung máy thở và các thiết bị bảo hộ cá nhân dành cho các khoa hồi sức tích cực.

Trong một bài viết sau này, ông gọi cơ hội bị đánh mất này là một “bê bối ở tầm quốc gia” (national scandal) và sẵn sàng làm chứng trong một phiên điều trần Quốc hội về sự lệch pha giữa “các cảnh báo cấp bách từ tiền tuyến Trung Quốc” và “những đánh giá chậm chạp” về mối nguy của các cố vấn chính phủ.

Sau khi phát triển thành công xét nghiệm virus vào ngày 10/1, cơ quan y tế thiết lập một hệ thống xét nghiệm và triển khai tập trung. Trong thời gian đầu, nhiệm vụ xét nghiệm được giao cho một phòng thí nghiệm duy nhất ở Bắc Luân Đôn. Theo các công bố sau này từ Chính phủ, thời điểm đó không hề có một kế hoạch nhằm xét nghiệm trên diện rộng hoặc huy động các phòng thí nghiệm, công và tư, mà đáng lẽ ra có thể đã được huy động.

Theo các email và hơn một tá nhà khoa học được phỏng vấn bởi Reuters, Chính phủ đã không hề đề nghị bất kì phòng thí nghiệm nào hỗ trợ, cả về mặt nhân lực lẫn vật lực, cho đến trung tuần tháng 3, khi mà các phòng lab này đột ngột nhận được yêu cầu phải cung cấp thiết bị dẫn xuất vật chất di truyền (axit nucleic) dùng trong xét nghiệm. Viện Nghiên cứu Weatherall về Y học Phân tử thuộc Đại học Oxford cho biết họ đã có thể thực hiện lên đến 1000 xét nghiệm một ngày từ tháng 2, nhưng không ai nhờ họ cả.

“Chúng tôi cứ tưởng là họ sẽ đến và đập cửa để nhờ chúng tôi”, một viên chức Viện này cho biết với điều kiện ẩn danh. Cho đến ngày 5/4, nước Anh đã thực hiện tổng cộng 195,524 xét nghiệm, thua xa so với ít nhất 918,000 xét nghiệm được thực hiện ở Đức một tuần trước đó.

Ngay cả các nỗ lực hiệu quả để mở rộng nguồn cung máy thở cũng không thấy đâu. Bộ Y tế nói với Reuters rằng Chính phủ đã bắt đầu thảo luận với các nhà sản xuất máy thở về việc phân phối thêm nguồn cung vào tháng 2. Thế nhưng đến tận ngày 16/3, sau khi nguồn cung rõ ràng có thể trở nên cạn kiệt, ông Johnson mới kêu gọi các nhà máy và nhà cung cấp gia tăng sản xuất.

Ông Charles Bellm, giám đốc Intersurgical, một nhà cung cấp các thiết bị trợ thở có trụ sở ở ngoại ô Luân Đôn, cho biết rằng ông đã nhận được liên lạc từ hơn một tá chính quyền các nước trên thế giới, bao gồm Pháp, New Zealand và Indonesia, nhưng không hề nhận được chính quyền Anh liên hệ. “Tôi thấy khá ngạc nhiên, vì tôi đã nói chuyện với rất nhiều chính quyền của các nước”, ông nói.

Phản bác chỉ trích trên, ông Hancock, bộ trưởng bộ Y tế, nói rằng Chính phủ đã có kế hoạch phân phối khoảng hơn 10,000 máy thở trong tuần tiếp theo. Một trong những lí do nước Anh chậm chân hơn so với các nước khác trong việc xét nghiệm chính là sự thiếu vắng ngành chẩn đoán ở quy mô công nghiệp. “Chúng tôi không đạt được quy mô đó”

GAME OVER

Đến kì nghỉ giữa kì của học sinh phổ thông vào tháng 2, Nicky Longley, một bác sĩ ở tiền tuyến bắt đầu nhận ra rằng các kế hoạch dự phòng nhằm ngăn chặn dịch bệnh có thể sẽ đổ bể.

Trong nhiều tuần lễ, các bác sĩ và nhân viên chăm sóc y tế đã chứng kiến những người có triệu chứng giống như cúm mùa đến từ Trung Quốc. Bác sĩ Longley, chuyên tư vấn về bệnh truyền nhiễm tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Luân Đôn, là thành viên thuộc nhóm y tế công cộng trợ giúp các bệnh nhân có triệu chứng COVID-19. Kế hoạch, theo cô, là cố gắng hết sức xác định mọi ca bệnh và tiền sử tiếp xúc của họ.

Rồi tin xấu đến. Đầu tiên, vào thứ 4 ngày 19/2, tin sốc truyền đến rằng Iran đã ghi nhận hai trường hợp tử vong. Sau đó, thứ 6 ngày 21, một ca nữa tử vong ở Ý và các ca bệnh bùng nổ ở hai vùng Lombardy, Veneto. Nước Anh sau đó cắt đứt đi lại với cả hai nước này, trong khi hàng ngàn người Anh đang đi nghỉ mát ở Ý trong tuần đó.

“Tôi không nghĩ là mọi người đã lường trước được chuyện đang xảy ra ở Ý”,  bà Longley nói. “Tôi cũng nghĩ rằng ngay giờ phút ấy, tất cả đều thấy rõ rằng mọi việc đã đổ bể.”

Cho đến lúc đó, vẫn theo bác sĩ Longley, số đông cảm thấy “vẫn còn cơ hội để mọi thứ trở lại như cũ”, trong khi những người khác hoài nghi rằng các biện pháp này có thể kéo dài. Nhưng sau Iran và Ý, rõ ràng việc chặn đứng dịch bệnh là điều không thể. Việc lần ra các tiếp xúc của người bệnh vẫn tiếp tục trong một thời gian sau đó. Nhưng khi số ca bệnh ở Luân Đôn tăng cao, còn số lượng cuộc gọi đến đường dây nóng trở nên quá tải, ưu tiên hàng đầu trở thành chăm sóc lâm sàng các ca bệnh nặng. “Đến một lúc nào đó, bạn phải quyết định xem nên tập trung nguồn lực của toàn hệ thống vào đâu.”

Ông Edmunds để ý thấy rằng Iran và Ý hiếm khi ghi nhận thêm các ca bệnh cho đến lúc đó. “Thế rồi bất thình lình, các ca tử vong được ghi nhận.” Theo nguyên tắc thì trong giai đoạn đầu của cuộc bùng phát, cứ một ca tử vong thì suy ra có khoảng 1000 ca nhiễm bệnh trong cộng đồng. “Vậy nên khá rõ ràng là có ít nhất một ngàn ca bị lây nhiễm ở Ý, thậm chí có thể là hàng chục ngàn ca cho đến thời điểm đó.”

Giữa cơn bão tin xấu từ ý, các nhà khoa học của NERVTAG họp trực tuyến vào thứ 6 tuần đó, ngày 21/2. Trong cuộc họp này, họ kết luận rằng vẫn nên giữ mức cảnh báo ở mức “trung bình” như mức được đặt vào ngày 30/1. Bản ghi cuộc họp không thể hiện nguyên nhân của việc này. Ông Edmunds, trong cuộc họp, bị trục trặc kỹ thuật và không ai nghe thấy ông nói gì. Bản ghi cho thấy vì lí do này, ông đã phải viết email cho tất cả đồng nghiệp của mình ở NERVTAG, yêu cầu nâng mức cảnh báo hiểm hoạ lên “cao.” Vậy nhưng mức cảnh báo vẫn là “trung bình” và đến giờ vẫn chưa rõ nguyên nhân.

“Tôi đoán ra chúng ta vẫn nghĩ nó là nhẹ hay sao đó thì phải. Sự thật chắc chắn không phải thế”, ông Edmunds nói.

Người phát ngôn của cố vấn trưởng Chính phủ về các vấn đề khoa học, Sir Patrick Vallance, không hồi đáp trực tiếp câu hỏi của Reuters về mức cảnh báo. Khi được hỏi về việc liệu cách tiếp cận của các nhà khoa học trong thời gian qua có là đúng đắn, người phát ngôn này chỉ nói “SAGE và các cố vấn chỉ đưa ra các khuyến cáo, trong khi các Bộ trưởng và Chính phủ đưa ra quyết định cuối cùng.”

(Còn tiếp)