COVID-19 – Ai phải chịu trách nhiệm cho tình hình hiện tại của nước Anh? (Kì 1)

Nguyễn Tuấn Nghĩa

Sự khác biệt về số ca lây nhiễm và tỉ lệ tử vong giữa Việt Nam và Vương quốc Anh làm bất cứ ai có ít nhiều trình độ học vấn đều thấy khó hiểu. Nước Anh vẫn được cho là một quốc gia phát triển hàng đầu về khoa học, và trong khi họ không ngừng tuyên bố rằng họ hành động cũng theo khoa học, số ca nhiễm ở thời điểm ngày 10/4, số ca lây nhiễm đã là hơn 65 ngàn. Con số này ở một nước thường được cho là kém phát triển hơn – Việt Nam – lại chỉ có 257, và hơn một nửa đã hồi phục. Plawsible dịch toàn văn bài báo cáo này của hãng thông tấn Reuters, với hy vọng độc giả có thể tự mình đánh giá một cách khách quan phản ứng, liệu rằng ‘chủ quan’ có đủ để nói lên hết thái độ của các chuyên gia và nhà cầm quyền Anh hay không. Tên bài do người dịch đặt

Dịch toàn văn từ Special Report: Johnson listened to his scientists about coronavirus – but they were slow to sound the alarm

London (Reuters) Các nhà khoa học Anh chỉ thẳng thừng nói sự thật với Chính phủ vào đầu mùa xuân, rằng “Rất có khả năng virus corona sẽ còn truyền nhiễm một cách lâu dài” ở nước Anh.

Theo mô hình được xây dựng ngày 2/3 bởi các nhà khoa học thành viên của tổ tư vấn, nếu như không bị ngăn chặn và tình hình diễn ra như ở Trung Quốc, số người bị mắc COVID-19 ở nước Anh có thể lên đến bốn phần năm toàn dân số, và tỉ lệ tử vong sẽ vào khoảng 1% dân số, nghĩa là cứ khoảng 100 người Anh thì sẽ có 1 người chết vì COVID-19. Báo cáo này không nói trực tiếp, nhưng theo dự tính thì dân số 70 triệu sẽ có hơn 500,000 phải chết.

Vậy mà ngày hôm sau, 3/3, Thủ tướng Johnson vẫn vui nhộn như tính cách của ông thường ngày. Ông vẫn đùa là ông vẫn bắt tay với tất cả mọi người, ngay cả khi đến thăm một bệnh viện đang điều trị các bệnh nhân bị mắc virus corona.

“Nước ta đã chuẩn bị cực kỳ tốt”, Johnson nói khi nước Ý ghi nhận 79 ca tử vong. “Chúng ta đã có một Cơ quan Y tế Quốc gia tuyệt vời (NHS), một hệ thống xét nghiệm tuyệt vời và một hệ thống xuất sắc để theo dõi sự lây lan của dịch bệnh”.

Họp báo cùng với ông Johnson là cố vấn trưởng về y tế Chris Whitty, một nhà dịch tễ học. Whitty công bố các kết luận chung chung của tổ tư vấn, bao gồm dự đoán về khả năng 80% lây nhiễm và các con số về thương vong. Thế nhưng ông ta lại ‘nói giảm nói tránh’, rằng số người bị lây có thể “ít hơn rất nhiều” và kết quả cuối cùng “phần lớn đều là phỏng đoán”.

Special Report: Johnson listened to his scientists about ...
Thủ tướng Boris Johnson họp báo cùng Patrick Vallance (bên phải ảnh, cố vấn trưởng về khoa học) và Chris Whitty (bên trái ảnh, cố vấn trưởng về y tế) – Ảnh: Reuters

Sự lạc quan trong buổi họp báo tương phản rõ rệt với sự khó chịu của rất nhiều cố vấn khoa học của Chính phủ ở phía sau cánh gà. Tại thời điểm đó, họ đã biết rằng nước Anh đang đứng trên bờ vực của một sự bùng phát thảm hoạ, theo một điều tra của hãng thông tấn Reuters.

Nghiên cứu các cuộc phỏng vấn với hơn 20 nhà khoa học Anh, các quan chức cấp cao và các nguồn đáng tin cậy khác trong Đảng Bảo thủ của Thủ tướng Johnson cùng với bản ghi các cuộc họp, các thông báo và tài liệu chính thức, dễ dàng thấy được các cố vấn khoa học đã kết luận từ sớm rằng virus này sẽ mang lại các hậu quả nặng nề.

Tuy nhiên các cuộc phỏng vấn và các tài liệu cũng cho thấy rằng trong hơn hai tháng, các nhà khoa học có ảnh hưởng đến các quyết sách của Phố Downing (Văn phòng Thủ tướng Anh) không bộc lộ rõ những lo lắng ngày một sâu sắc của họ với chính quyền hay công chúng. Cho đến ngày 12 tháng 3, mức rủi ro đặt ra bởi các cố vấn theo lời khuyên của các nhà khoa học vẫn duy trì ở mức “trung bình”. Điều này cho thấy một cuộc bùng phát của virus chỉ là “có khả năng”.

“Bạn biết đấy, có một số nhỏ những người thuộc nhóm ở giữa, những người chắc chắn đã nhận ra chuyện gì đang diễn ra, và có khả năng cao sẽ xảy ra”, giáo sư John Edmunds cho biết. Ông là giáo sư về xây dựng mô hình bệnh truyền nhiễm và cũng là một cố vấn cấp cao cho Chính phủ, được biết đến về công trình theo dõi bệnh Ebola. Edmunds thuộc nhóm những người sớm kêu gọi Chính phủ nâng mức cảnh báo lên từ sớm.

Theo ông Edmunds, chỉ cần nhìn qua các công trình khoa học cũng thấy, chỉ với sự can thiệp hạn chế, virus này sẽ gây ra một đại dịch làm quá tải các hệ thống y tế, còn dịch vụ y tế của nước Anh thì “còn lâu mới có thể giải quyết những tình huống như thế này. Đây là điều rõ ràng ngay từ đầu”

Nhưng ông cũng nói: “Tôi nghĩ rằng có một số mối lo ngại về việc không nên làm cho người dân hoảng loạn một cách không cần thiết”

Thủ tướng Johnson, người sau này cũng bị nhiễm COVID-19, đã có những động thái chậm chạp hơn những người đồng cấp ở các quốc gia phát triển khác trong việc thực hiện phong toả. Ông bị chỉ trích vì đã không bắt đầu tổ chức xét nghiệm trên diện rộng và huy động nguồn cung các thiết bị trợ sinh và giường bệnh sớm hơn. Johnson nhập viện vào ngày 5/4 và được đưa vào khoa điều trị tích cực vào ngày tiếp theo.

Còn quá sớm để đánh giá hiệu quả của các phản ứng sớm của nước Anh. Nếu lịch sử nhìn nhận rằng những phản ứng này thiếu đầy đủ, Johnson sẽ không bị lên án vì đã lờ đi khuyến cáo của các cố vấn chuyên môn, song sẽ bị coi là thất bại trong việc chất vấn các giả định của tổ tư vấn này.

Các cuộc phỏng vấn và các bản ghi âm được công bố cho đến nay thể hiện rằng tổ tư vấn khoa học cho Johnson không hề nghiên cứu đến việc phong toả nghiêm ngặt cả nước như Trung Quốc. Trớ trêu là sau đó, gần như toàn bộ Châu Âu và ngay cả nước Anh sau cùng cũng phải chấp nhận biện pháp này. Các nhà khoa học lý luận: Người Anh đơn giản là sẽ không chấp nhận quy định này.

Nếu lịch sử nhìn nhận rằng những phản ứng này thiếu đầy đủ, Johnson sẽ không bị lên án vì đã lờ đi khuyến cáo của các cố vấn chuyên môn, song sẽ bị coi là thất bại trong việc chất vấn các giả định của tổ tư vấn này

Các nhà khoa học Vương quốc Anh phần lớn đã cho rằng – thậm chí một số ngày nay vẫn bảo lưu quan điểm – một khi virus mới này vượt qua biên giới Trung Quốc, các biện pháp cách ly sẽ không có tác dụng. Reuters nghiên cứu các bản thu các cuộc họp của tổ tư vấn chuyên môn và chỉ ra rằng, gần như không ai nghĩ đến một chương trình xét nghiệm quy mô lớn. Các bản thu và các cuộc phỏng vấn khác cho thấy nước Anh gần như đã lựa chọn đi theo một kịch bản đế đối phó với một thứ gì đó tương tự cúm mùa, chứ không phải căn bệnh chết người hơn rất nhiều như thế này. Các nhà khoa học có liên quan tuy nhiên vẫn cho rằng, cuối cùng thì cách tiệp cận này sẽ không mang lại kết quả khác biệt nhiều.

Giờ đây, khi các quốc gia đang bàn thảo cách đối phó với virus, một số chuyên gia ở đây lại cho rằng, bài học kinh nghiệm từ nước Anh cho thấy các chính phủ và các nhà khoa học trên khắp thế giới cần phải công khai và minh bạch hơn về kế hoạch của mình, để từ đó các luận điểm và giả định của họ có thể được phản biện.

John Ashton, một bác sĩ lâm sàng và nguyên là giám đốc cấp vùng của Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS – cơ quan phụ trách chăm sóc sức khoẻ) nói rằng các cố vấn chính phủ thời gian qua có một tầm nhìn vô cùng hẹp và giả định những tiền đề quá hạn chế. Họ chỉ “là một số ít được chọn từ một số ít cơ sở nghiên cứu”. Chính vì vậy, cách giải quyết COVID-19, theo Ashton, cho thấy sự cần thiết phải có một cách tiếp cận rộng hơn. “Trong tương lai chúng ta cần một nhóm rộng hơn bao gồm các cố vấn độc lập”

Michael Cates, người tiếp nối học hàm Giáo sư Lucasian của Stephen Hawking tại Đại học Cambridge đang dẫn đầu một dự án của Hội Khoa học Hoàng gia, cơ quan nghiên cứu khoa học hàng đầu nước Anh. Nhóm của ông tập hợp các chuyên gia xây dựng mô hình từ nhiều ngành nghiên cứu khác nhau nhằm hiểu rõ hơn về đại dịch này.

“Tôi không muốn chỉ trích bất kì ai, nhưng khi mà có quá nhiều thứ có thể bị ảnh hưởng ở đây, chúng ta cần tận dụng tất cả những gì có thể để hiểu càng nhiều về căn bệnh này càng tốt. Đặc biệt là cần phải phát triển thêm các phương pháp, các giả định và dữ liệu để phỏng đoán căn bệnh này sẽ diễn biến ra sao”, ông nói với Reuters.

(còn tiếp)