Cú lừa của các trường Đại học Anh (Kì 3 và hết)

Cú lừa của các trường Đại học (Kì 1)

Cú lừa của các trường Đại học (Kì 2)

Tại sao bộ phận quản lý lại ép các giảng viên phải nâng điểm? Bởi vì các trường Đại học cần điểm cao để được đánh giá tốt trên các bảng xếp hạng.

Các bảng xếp hạng với những dữ liệu mù mờ

Lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1993, các bảng xếp hạng trường Đại học giờ là những căn cứ chính để sinh viên quyết định sẽ apply vào đâu. Có 3 bảng xếp hạng chính, bao gồm các bảng xếp hàng được công bố bởi Tạp chí Thời đại (Times) và The Guardian. Kết quả xếp hạng của các bảng này đều như nhau, tạo ra một lượng dữ liệu vô cùng tương đồng, hạn chế và được tính toán một cách rất không rõ ràng. Chỉ duy có một điều chắc chắn, đó là điểm số ảnh hưởng sống còn đến thứ hạng của các trường. Ảnh hưởng này vừa là trực tiếp, bởi nó nói lên chất lượng dạy học của trường, vừa là gián tiếp, thông qua các bản khảo sát sinh viên năm cuối. Tỉ lệ xin được việc làm, một phần quan trọng của các bảng xếp hạng, cũng bị ảnh hưởng bởi điểm số. Tấm bằng danh dự loại giỏi bây giờ phổ biến đến mức nhiều nhà tuyển dụng chỉ tuyển sinh viên tốt nghiệp với ít nhất tấm bằng loại khá. Lạm phát điểm số lại dẫn đến lạm phát điểm số.

Dữ liệu từ các bảng xếp hạng này không thể được kiểm chứng hoặc tính toán lại một cách độc lập. Ví dụ như bảng của The Guardian từ năm 2008 đến nay hoàn toàn được xây dựng bởi một người duy nhất: một nhà thầu, người cũng làm ở cả Đại học Kingston. Những bảng xếp hạng này được tin tưởng nhờ sự ủng hộ của các tạp chí xuất bản chúng, mặc dù các tạp chí này đều không có mong muốn cũng như khả năng để xác nhận tính chính xác của các bảng xếp hạng này. Các bảng này cũng không được giám sát bởi chính quyền hoặc các trường Đại học. Có rất ít nghiên cứu học thuật để xác thực sự chính xác hoặc sự liên quan của các dữ liệy có trong bảng. Vậy mà, chúng định hướng quyết định của hàng trăm ngàn sinh viên năm này qua năm khác.

Không có tính toán nào của các bảng xếp hạng này không có lỗi. Khi được khảo sát, không sinh viên có lí trí nào lại đi nói xấu ngôi trường chuẩn bị cấp bằng cho mình, kể cả nó có tệ đến mấy; và điều này được công nhận bởi các sinh viên mới tốt nghiệp. Tỉ lệ sinh viên chia nhân viên trong các bảng thì không liên quan gì lắm đến những dữ liệu được công bố. Lượng chi phí đầu tư cho sinh viên, cũng giống vậy, là một  số liệu mờ ám, hoàn toàn có thể bị thao túng.

Về mặt khả năng xin được việc làm sau tốt nghiệp, bảng xếp hạng năm nay của The Guardian xếp Oxford sau 28 trường Đại học khác, bao gồm cả De Montfort và Bradford. Số liệu duy nhất có ý nghĩa ở đây là chất lượng đầu vào, mà cái này thì cũng bị hạn chế, bởi nó không nhắm vào các trường đại học mà chỉ tập trung vào độ nổi tiếng của các trường đối với các ứng viên chuẩn bị nộp đơn.

Mặc dù được xếp hạng chung cao thứ 2 và 3 trong 2 năm gần đây, khá khó hiểu là khả năng xin được việc của sinh viên Oxford lại xếp thứ 28

Các bảng xếp hạng không đo được những thứ quan trọng. Chúng chỉ ghi lại những thứ sẵn có ngay từ đầu và những thứ được tổng hợp một cách mờ ám. Và chính những thứ này lại đang ảnh hưởng đến không chỉ quyết định của các sinh viên, mà còn ảnh hưởng đến quyết định của tất cả các trường Đại học.

Không vung tiền mở được thêm trường thì ta đổi tên Cao đẳng thành Đại học

Năm 1992, chính quyền của Thủ tướng John Major đề ra hai quyết định mang tính then chốt. Đầu tiên là biến tất cả các trường cao đẳng nghề trở thành các trường Đại học, từ đó làm tăng gấp đôi số trường Đại học. Các trường cao đẳng nghề này vốn đã là những cơ sở đào tạo sau phổ thông ở địa phương và chỉ đào tạo những khoá học ngắn, mang tính thực dụng và ‘tương đương Đại học’. Chúng tồn tại là để sinh viên có những lựa chọn thay thế việc học Đại học. Một số ít các giảng viên của các trường này có làm nghiên cứu. Tuy nhiên chính quyền của Thủ tướng Major muốn nhiều sinh viên Đại học hơn mà không phải đầu tư thêm tiền để mở rộng. Chỉ bằng một thay đổi về từ ngữ, chính phủ đã đạt được mục đích của mình.

Quyền được cấp bằng Đại học, một đặc quyền đã được bảo hộ chặt chẽ trong hàng thập kỉ, được cấp phát rộng rãi chỉ sau một đêm. Cùng lúc đó, chính phủ quyết định, chỉ trong một giây, một quyết định quan trọng, đó là tiền tài trợ cho các trường Đại học lúc này sẽ phụ thuộc một phần vào một chương trình non trẻ, Rèn luyện nghiên cứu đánh giá (Research Assessment Exercise – RAE) – một nỗ lực để đo lường chất lượng của nghiên cứu khoa học. Hệt như các trường Đại học, các trường Cao đẳng nghề cũng sẽ đủ tiêu chuẩn để nhận khoản tài trợ này. Giờ đây, quan trọng hơn hết đối với các trường, chính là xếp hạng RAE của họ. Như ghi nhận của Viện Kĩ thuật và Công nghệ nhiều năm sau: ‘Các khoa giảng dạy xuất sắc sẽ bị đóng cửa nếu như họ không xuất bản nghiên cứu’. Sẽ thật là vô lý nếu như các giảng viên lại tập trung vào giảng dạy. Họ phải công bố nghiên cứu hoặc ra đi. ‘Tôi đã có dịp được chứng kiến trước hết’, Geoffrey Alderman, giáo sư ngành Chính trị học tại Đại học Buckingham nói, ‘sự hi sinh của các nhiệm vụ sư phạm trước sự tôn thờ thành tích RAE’.

Sự hi sinh ấy, đề xuất bởi Thatcher và chuẩn bị bởi Major, đã được duy trì dưới thời Blair. Tự do học thuật bị suy yếu. Quyền được cấp bằng Đại học đã được cấp phát một cách đột ngột. Và người ta đã tạo ra một mục tiêu nhân tạo cho việc nghiên cứu, đúng như Robbins đã lo sợ. Tuy nhiên, với tầm nhìn mạnh mẽ, chính quyền của Công đảng đã có thể duy trì ý nghĩa của tấm bằng Đại học.

Nhưng Blair, như các Thủ tướng trước và sau ông, đã muốn nhiều sinh viên tốt nghiệp hơn nữa. Để duy trì chất lượng, với nhiều sinh viên hơn, điều này có nghĩa là sẽ có hàng lớp sinh viên trượt, hoặc chính quyền phải ngay lập tức cải thiện sự giáo dục các tân sinh viên Đại học này. Điều đầu tiên không thể lường trước được, còn điều thứ hai không thể thực hiện được. Và vì thế chất lượng bị hi sinh. Các đại học Anh không thể có nhiều hơn hai trong ba thứ: to, rẻ, tốt.

Lỗi hệ thống?

Nhưng chất lượng không phải thứ mà chính quyền có thể vung ra cho tất cả. Họ cũng không cần phải làm như vậy. Họ chỉ đơn giản cần tạo ra một hệ thống không thể duy trì các tiêu chuẩn chất lượng trong khi vẫn khẳng định rằng nó có thể. Blair có thể đã tin rằng Anh quốc vừa vĩ đại vừa thông minh. Cũng giống như Boris Johnson và Brexit, các trường Đại học vừa có thể có cả miếng bánh và vừa có thể ăn nó. Một cơ quan được thành lập để phụ trách sự bất khả thi này: Cơ quan Đảm bảo Chất lượng (Quality Assurance Agency – QAA).

Đối với một sinh viên ngờ nghệch, QAA có thể nghe giống như một cơ quan quản lý nhà nước giám sát chất lượng của việc đào tạo Đại học. Trên thực tế, QAA ‘chưa bao giờ quan tâm đến các tiêu chuẩn’, Bahram Bekhradnia, từ Viện chính sách giáo dục sau phổ thông, nói. Tất cả những gì cơ quan này làm, theo Alan Ryan, giáo sư Chính trị học tại Đại học Oxford giải thích, là ‘đảm bảo một hình thức đóng gói kiểu quan liêu’.

Với mỗi tấm bằng, các trường Đại học phải miêu tả sinh viên sẽ học những gì. Nhưng QAA không hề đánh giá những thứ này, cũng như nghi ngờ về nội dung của một khoá học. Như QAA đã tự lên tiếng, ‘Chúng tôi hướng tới đảm bảo rằng các cơ sở đào tạo đều có một quá trình hoạt động hiệu quả, nhưng chúng tôi không hề đánh giá các tiêu chuẩn của chúng’.

Sự tập trung của cơ quan này vào các quá trình rất đáng lưu ý. Trong bản báo cáo Robbins, ‘tiêu chuẩn’ được nhắc đến 72 lần. ‘Quá trình’ được nhắc đến hai lần, và đều không liên quan gì đến chất lượng của tấm bằng. Vào năm 2009, uỷ ban của Hạ viện yêu cầu QAA cần phải được cải cách và đổi tên, với chức năng ‘bảo vệ và báo cáo về các tiêu chuẩn’ hàng năm cho Quốc hội. Từ một thập kỉ sau đó, lạm phát điểm số đã tăng vọt, trong khi Quốc hội vẫn đang đợi báo cáo đầu tiên của cơ quan này.

Năm 2011, David Willetts, Bộ trưởng Giáo dục Đại học, đã chọn lờ đi những phát hiện của uỷ ban vào năm 2009. Thay vào đó, về cơ bản ổng đã khiến cho vòng luẩn quẩn đi xuống của các tiêu chuẩn trở nên trầm trọng hơn. Chính phủ liên hiệp của Đảng Bảo thủ gần như đã xoá sổ nguồn tài trợ trực tiếp của Nhà nước với giảng dạy Đại học. Đổi lại, họ tăng học phí từ £3,225 lên đến £9,000. Điều này có nghĩa là trài trợ của Nhà nước ‘tỉ lệ thuận với số sinh viên’. Số phận của các trường giờ đây phụ thuộc vào quyết định của các cô cậu thanh niên 18.

Các Đại học phải ‘cho’ điểm để thoả mãn sinh viên. Điều này giúp họ giữ được thứ hạng, và đảm bảo lượng sinh viên đầu vào. Những sinh viên này làm gia tăng tài trợ của nhà nước và giúp cho các Đại học sinh tồn. Willets luôn tự tán dương hệ thống thị trường cạnh tranh mà ông đã tạo ra. Nhưng các trường không hề cạnh tranh để cung cấp giáo dục. Họ tranh giành nhau việc thao túng và làm hài lòng những thuật toán giữ họ tồn tại.

Không có gì được làm để kiểm soát những tồn tại được báo cáo lên Uỷ ban chuyên trách của Quốc hội. ‘Bí mật được bật mí rộng rãi nhất trong giới học thuật chính là, hầu hết các giảng viên đều thông báo cho sinh viên của mình biết trong bài kiểm tra sắp tới của họ có gì’

‘Những phần khó trong giáo trình thường được lờ đi hoàn toàn, hoặc đơn thuần là không bị kiểm tra’, Uỷ ban được thông báo như vậy. Thực trạng này hiện vẫn còn thường diễn. Và hiện giờ, cũng giống như ngày trước, nếu như các mánh này thất bại, điểm số luôn có thể được ‘nâng’ như cách mà chúng đã được làm ở Sheffield.

Năm ngoái, một cuộc điều tra thoáng qua của Hạ viện đã lạc quan và thiếu chín chắn tán dương các trường đại học top đầu vì những giá trị chúng mang lại. Trong bản báo cáo, có một lần tỉ lệ đỗ được dùng để thể hiện chất lượng của tấm bằng Đại học. ‘Đơn giản là các trường Đại học không có lợi lộc gì trong việc nhận những sinh viên không có khả năng thành công’, Universities UK, hiệp hội các phó hiệu trưởng Đại học, đã lý luận như vậy. Bằng việc làm cho chuẩn đầu vào thấp đến mức mà ai cũng có thể qua được, họ đã đảm bảo rằng điều này là đúng.

Việc tăng gấp ba lần học phí có một hệ quả mà ít ai nhận thấy. Nhờ vào một lỗi tài chính vừa mới được chỉnh lại gần đây, chi phí cho các Đại học đã gần như bị ẩn đi trong báo cáo chi ngân sách của Chính phủ từ năm 2011.

Học phí được chính phủ thay mặt sinh viên trả cho các trường Đại học. Sau khi tốt nghiệp, đến một năm nhất định, nếu các sinh viên này kiếm được trên £25,000, họ sẽ phải trả lại một phần khoản ‘vay’ này. Tuy nhiên đây lại không phải là một khoản vay ‘theo bất cứ cách hiểu nào’, như ông Paul Johnson, Giám đốc Viện nghiên cứu chính sách tài chính nói. ‘Chắc chắn sẽ không bao giờ có bên thi hành án đến cưỡng chế anh [nếu anh không trả được nợ]’. Theo nguyên tắc kế toán của chính phủ, gọi đây là một khoản vay có nghĩa là việc chi trả học phí cho sinh viên không được ghi vào là chi tiêu công. Willets nói có, nhưng Bộ Tài chính có thể làm như không.

Willetts coi việc tài trợ cho các trường Đại học được lấy ra từ chi tiêu công. Đây là một sự ảo tưởng. Việc tách bạch tiền trợ cấp cho các Đại học với chi tiêu chính phủ chỉ là có thể trong ngắn hạn. Sau rốt, rồi ai đó sẽ phải trả tiền cho ‘phép màu’ Đại học Anh, và đó không ai khác chính là người Anh.

Cho đến nay, nợ học phí Đại học đã cộng dồn lên đến 105 tỉ bảng Anh, khoảng 5% GDP cả nước. Đến khoảng những năm 2040, theo Bộ Giáo dục ước tính, con số này sẽ tăng thêm 460 tỉ bảng Anh, nghĩa là khoảng 12% GDP toàn quốc. Văn phòng Quản lý Ngân sách dự báo rằng con số này sẽ duy trì hơn 10% GDP trong nhiều thập kỉ tới.

Ở mức lãi suất thấp, núi nợ công này còn kiểm soát được. Nhưng khi lãi tăng, điều này sẽ thay đổi. Chi phí chính xác mà Chính phủ phải chịu có thể không đáng quan ngại. Nếu giáo dục Đại học hoá ra lại không hiệu quả như mong đợi, như IFS đã chỉ ra, và thu nhập của sinh viên tốt nghiệp chỉ cần thấp hơn dự báo một chút thôi, khoản nợ của người nộp thế sẽ tăng chóng mặt. Và điều này là hoàn toàn dễ hiểu. Năm 2011, Chính phủ dự báo rằng họ sẽ phải trả khoảng 30% nợ Đại học của sinh viên. Kể từ thời điểm ấy, con số này đã tăng gấp năm lần: khoảng 54%.

‘Thu nhập của các cử nhân đã trở nên thấp hơn mức kì vọng rất nhiều’, Paul Johnson nói. Một phần vì cứ hai sinh viên tốt nghiệp Đại học thì một người không làm công việc đòi hỏi trình độ này, và tỉ lệ ấy đã tăng đều kể từ năm 2001. Và điều này không hề làm Ken Mayhew, một nhà kinh tế học lao động ở Oxford, người đã luôn nghi ngờ sự mở rộng của các trường Đại học, ngạc nhiên. ‘Quan điểm của tôi đã trở nên cứng rắn kể từ hồi ấy’, giáo sư này nói. ‘Thực sự là một câu hỏi lớn, về việc liệu cứ vào Đại học là khả năng của con người lại tăng lên’.

Trong tương lai, nước Anh sẽ phải nuôi một hệ thống Đại học không liên quan gì đến thế giới bên ngoài nó. Giống con ếch ngồi trong nước sôi, các trường Đại học đang thay đổi từ từ. ‘Càng ngày anh càng cảm thấy khó chịu, nhưng anh không bảo giờ nhảy thoát khỏi đó được’, một giáo sư ở một Đại học thuộc nhóm Russell Group nói. Tương lai của nền kinh tế Anh sẽ phải dựa một phần không nhỏ vào sức của những người xuất chúng. Nhưng họ không hề được chuẩn bị gì cho điều này. Nhân danh tính di động xã hội, hệ thống giáo dục Đại học vốn chỉ dành cho giới tinh hoa đã được bán cho từng thế hệ sinh viên nối tiếp. Một hệ thống giáo dục bị chín ép, bị bắt phải mở rộng được offer cho sinh viên. ‘Bi kịch thực sự’, Derbyshire nói, ‘là chúng ta đang lãng phí tiền bạc, và tệ nhất, là đang lãng phí thời gian của thanh niên. Đó là điều bất hợp lý’.