Cú lừa của các trường Đại học Anh (Kì 2)

Cú lừa của các trường Đại học Anh (Kì 1)

Biến các sinh viên thờ ơ thành những người xuất chúng?

‘Những khái niệm mà sinh viên 10 đến 15 năm trước hiểu được dễ dàng, sinh viên ngày nay phải chật vật để tiếp thu’, Peter Dorey, giáo sư ngành Chính trị Anh tại Đại học Cardiff, nói trong bản điều tra của Hạ viện năm 2009. ‘Nhiều người trong số họ gần như bán mù chữ’. Dorey miêu tả những buổi seminar mà trong đó, sinh viên ngồi một cách thờ ơ, chỉ chực đợi nghe cách ‘qua môn’. ‘Thậm chí họ còn chẳng ngại ngần hay xấu hổ mà thú nhận mình chẳng đọc gì’, ông nói trong phiên điều trần.

Miêu tả này rất quen thuộc với tất cả sinh viên ngày nay. Một sinh viên mới tốt nghiệp ngành Lịch sử nghệ thuật từ Đại học Edinburgh, trưởng thành sớm so với các bạn đồng khoá ở trường dòng của mình, vô cùng phấn khích với ý tưởng mang nghệ thuật và lịch sử lại với nhau. Sinh viên này nói ‘Bạn phải ngồi trong giảng đường cùng những sinh viên mà trong số ấy không ai muốn học, giảng viên thì không muốn dạy. Tất cả những gì học được những năm Đại học là tự tôi dạy chính mình’.

Một cử nhân khác mà tôi biết, tốt nghiệp Chính trị và Kinh tế học tại Đại học York, đã vô cùng quẫn trí với văn hoá học và lượng bài tập. Các bài kiểm tra cuối năm chưa bao giờ khác nhiều so với các bài kiểm tra năm trước, những thứ luôn sẵn có và miễn phí. Bạn đơn thuần chỉ cần biết vài mánh, trong khi các bài luận thì hiếm. ‘Cha tôi đã phải viết nhiều gấp bốn lần để được tốt nghiệp loại giỏi từ trường Đại học East Anglia vào những năm 1980’, anh nói với tôi.

Có rất ít dấu hiệu cho thấy các trường Đại học đang biến sinh viên thành những cử nhân xuất chúng, hay thậm chí là có khả năng. ‘Tất cả thuộc tính của nơi này đã thay đổi’, cựu giảng viên của Đại học Birmingham, Stuart Derbyshire nói. ‘Khoá học có vô cùng ít các luận văn, và việc dạy học trong các nhóm nhỏ cũng ít hơn rất nhiều’. Các bản khảo sát đều đã xác nhận điều này. Một phiếu điều tra của Viện giáo dục hậu phổ thông, một trong những cơ quan tham mưu chính sách, cho thấy sinh viên Anh được giao bài ít hơn trong vòng năm năm qua, trong khi lạm phát điểm số trở nên mất kiểm soát. Chủ tịch của Viện này, Bahram Bekhradnia, lưu ý rằng khi các sinh viên Châu Âu chuyển tiếp sang các Đại học Anh quốc, họ miêu tả rằng Đại học ở đây ‘đòi hỏi ít hơn trường của họ rất nhiều’.

Phải chăng sinh viên Anh học ít nhưng hiệu quả hơn? Bekhradnia cho rằng điều này là ‘bất khả thi, kiêu ngạo và hết sức tự thổi phồng’. Thực vậy, nó dường như không thể. Nếu như điều này là sự thực, tỉ lệ sinh viên xuất chúng thực sự đã cao gấp bốn lần năm 1994, và những thế hệ trải qua giai đoạn này sẽ là những hiện tượng lạ về mặt nhân khẩu học. Theo logic này, dữ liệu phải cho thấy mọi người đang thông minh lên, từ khả năng đọc hiểu, tính toán cho đến năng suất lao động. Trên báo chí sẽ đầy rẫy nhưng tin, bài về các công nhân ở độ tuổi 40, 50 bị đào thải, nhường chỗ cho ‘thế hệ thiên tài’. 8x, 9x thậm chí sẽ có biệt danh, ‘tuyệt vời’ chẳng hạn.

Nhưng đây lại không phải là những tính từ miêu tả thế hệ trẻ ngày nay. Trí thông minh phi thường của họ không được tìm thấy trong bất kì số liệu thống kê nào. Tỉ lệ xin được việc làm của thanh niên không có gì ấn tượng. Năng suất lao động của nước Anh đã chững lại trong vòng một thập kỉ qua, và những cử nhân thì có trình độ thấp hơn bao giờ hết. Đáng chú ý là, năm 2016, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD đã tổ chức nghiên cứu về các kĩ năng cơ bản của sinh viên mới tốt nghiệp Đại học của 23 nước, và trong đó, nước Anh thuộc top 3 nước kém nhất.

Cũng theo nghiên cứu này, cứ năm sinh viên tốt nghiệp Đại học ở Anh thì một người không thể thực hiện được các công việc đòi hỏi sự đọc viết có độ khó cao hơn việc đọc hướng dẫn sử dụng aspirin. Trong khi đó, khả năng tính toán của 28% các sinh viên chỉ giới hạn ở việc ước lượng số xăng còn lại trong xe. Những con số này kém hơn khoảng 3 lần so với các nước thuộc top 8, những nước dành khoảng $19,000 đầu tư cho mỗi sinh viên. Nước Anh tốn $26,000 cho mỗi sinh viên, chỉ đứng sau nước Mỹ ($30,000).

‘Các trường Đại học chẳng dạy gì về các kĩ năng cơ bản’, Simon Field, đồng tác giả của bản báo cáo OECD mang tên Xây dựng kĩ năng cho tất cả: Trường hợp của nước Anh nói. ‘Không ai ở các Đại học coi việc phát triển các kĩ năng cơ bản cho sinh viên là việc của mình, nhưng mặt khác, họ lại sẵn sàng nhận tất cả [sinh viên]’

Sơ lược về sự phát triển của các Đại học Anh

Khi nước Anh được công nghiệp hoá, nhiều Đại học và cao đẳng nở rộ ở nhiều thành phố lớn của đất nước này, nhưng không cái nào được trao cho quyền hoặc danh nghĩa Đại học theo đúng nghĩa: sinh viên các trường này phải làm bài kiểm tra ra đề bởi London hoặc Durham. Các trường Đại học được thành lập bảo vệ giá trị của danh hiệu ‘Bằng Đại học’, trong khi các trường cao đẳng dạy các khoá học việc kéo dài hàng thập kỉ. Nottingham phải đợi 67 năm để được cấp phép như mội đại học thực thụ, sau 2 cuộc Thế chiến và sự cáo chung của Đế quốc Anh.

University College London (UCL), một trong những trường Đại học đầu tiên ở nước Anh sau Oxford và Cambridge. Ngôi trường này đánh dấu cho việc lần đầu tiên, giáo dục trở nên tiếp cận được đối với công chúng, thay vì trước đây, chỉ có giới quý tộc được học trong hai ngôi trường nói trên (ảnh từ web trường ucl.ac.uk)

Vào những năm 1960, nhiều trường Đại học mới được thành lập ở các thành phố, bao gồm York và Norwich, nhưng chất lượng của chúng được kiểm soát một cách nghiêm ngặt. Họ bắt chước mô hình của các trường Đại học đi trước một cách có chủ ý. Tiêu chuẩn đầu vào ngày ấy vô cùng cao, trong khi các bài tập thì được giao một cách đều đặn và có tính thử thách. Tiêu chuẩn để được bằng Giỏi đều đồng bộ với nhau, làm cho tấm bằng loại này rất hiếm, khoảng 1/10 ở Oxbridge và thấp hơn ở các trường khác. Vào những năm 1970, ngân sách trợ cấp của nhà nước chững lại, nhưng các trường Đại học, khi đó vẫn được điều hành bởi các học giả phản ứng bằng cách dừng lại việc mở rộng, nhằm đảm bảo lượng đầu tư cho mỗi sinh viên phải tiếp tục tăng. Đây chính là hệ thống trường Đại học mà Margaret Thatcher được thừa kế.

Vậy bằng cách nào mà việc mở rộng gấp năm lần của các trường Đại học kể từ năm 1990, năm Thatcher từ chức Thủ tướng, lại trở nên kém hiệu quả đến vậy? Nghịch lý này đơn giản hơn chúng ta nghĩ. Các Đại học được quản lý bởi một loạt các chỉ tiêu được đề ra bởi các chính quyền nối tiếp nhau. Trong khi đó, các Đại học không bao giờ được đặt chỉ tiêu cũng như không được trao quyền tự quyết về chất lượng giáo dục. Nhiều trường đòi hỏi chất lượng, và cũng nhiều sinh viên chọn việc học chăm, hệ thống không được thiết kế để đảm bảo điều này. Theo nhiều báo cáo học thuật, thống kê cho thấy và đa phần sinh viên cũng biết, rằng không cần phải học nhiều lắm để lướt qua Đại học với tấm bằng Khá hoặc Giỏi.

Đó chính xác là những gì chính quyền đang ngầm khuyến khích, là hệ quả tất yếu mà hệ thống Đại học tạo ra. Đây có thể được gọi là vòng luẩn quẩn tự diễn biến làm các tiêu chuẩn xuống cấp, bắt đầu với các giảng viên. Học phải đối mặt với việc thiếu sinh viên: tại sao lại cho chúng những tấm bằng loại Khá? Bởi vì họ chịu áp lực từ nhóm kinh doanh của trường. Áp lực này là áp lực ngầm, và hiếm khi trở nên lộ liễu.

Ở Đại học Queen Mary năm ngoái, một bản ghi nhớ của Trường kinh doanh thuộc đại học này yêu cầu các giảng viên phải đảm bảo ít nhất 60% sinh viên phải được ít nhất loại Khá trong mỗi bài kiểm tra. Điều này, trường này nói rằng, không phải là ‘mục tiêu kì vọng về điểm số’, mà đúng hơn là ‘mức chặn dưới’ để ‘tránh các cuộc thanh tra’.

Trong một hệ thống mà các tiêu chuẩn học thuật được tôn trọng, các giảng viên cho quá nhiều điểm tốt sẽ bị điều tra. Trên thực tế, những người cố theo tiêu chuẩn này tự đặt mình vào vòng nguy hiểm. Vào cuối những năm 2000, Derbyshire cố gắng cho thật ít điểm cao khi còn đang dạy ở Đại học Birmingham. ‘Tôi thường xuyên bị đánh giá thấp hơn các đồng nghiệp’, ông nói với tôi. Điểm mà ông cho, giống như những bài luận gần đây ở Sheffield, cuối cùng được nâng hết. Khi ông phản đối, một giám khảo ngoài trường đã ‘lên lớp’ cho ông một bài về thực tế hiện nay của các trường Đại học. ‘Ông ta nói rằng đây không còn là năm 1986 nữa, và rằng chúng ta không thể chấm bài theo cách mà chúng ta chấm trong quá khứ. Ông ta bảo chúng ta phải tìm kĩ hơn để thấy được sự xuất sắc. Tôi tiếc là đã không vặn ông ta xem sự xuất sắc theo ông ta là cái gì’.

Cú lừa của các trường Đại học (Kì 1)

Cú lừa của các trường Đại học (Kì 3)