Cú lừa của các trường Đại học Anh (Kì 1)

Chưa bao giờ nước Anh có nhiều cử nhân Đại học đến thế, và cũng chưa bao giờ, tấm bằng đại học của họ có ít giá trị đến vậy

Harry Lambert

Trong ba thập kỉ trở lại đây, giáo dục luôn là đề tài gây tranh cãi ở Việt Nam: các nhà tuyển dụng phàn nàn vì phải đào tạo mới hoàn toàn các sinh viên sau khi ra trường; các ‘chuyên gia’ thì chê việc học quá nặng kiến thức sách vở. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết thể hiện quan điểm phê phán của tác giả, nhà báo Harry Lambert. Có lẽ việc phê phán giáo dục không chỉ là việc ở ‘ta’, mà ở ‘tây’ cũng có?

Bài viết được lược dịch từ bài gốc, đăng trên NewStatesmanAmerica

Hè năm nay, một khoa của trường Đại học Sheffield gửi đi một email tới các sinh viên. Một nhóm đã phàn nàn về điểm khoá luận giữa kì của mình. Một vài trong số họ đã được công nhận loại giỏi, và số còn lại đều được nhận loại trung bình và khá.

‘Cảm ơn các em vì đã nêu lên vấn đề’, bức email viết, ‘và cảm ơn vì sự kiên nhẫn của các em’. Sau khi cân nhắc, trưởng khoa cùng với ‘giám đốc giáo vụ và học vụ’ đã quyết định rằng ‘các quy trình của chúng ta đã làm chúng ta thất vọng. Vì điều này, chúng tôi thật lòng xin lỗi’. Ban lãnh đạo khoa đã quyết định ‘nâng điểm cho tất cả mọi người, những người điểm thấp sẽ được nâng nhiều hơn những người điểm vốn đã cao’. Nhiều người học kém được nâng điểm đến gần 40%, trong khi những người đã làm tốt thì có kết quả gần như không thay đổi gì. ‘Một lần nữa, chúng tôi xin lỗi’, đoạn tin nhắn khép lại ‘nhưng chúng tôi mong rằng đây là một giải pháp viên mãn cho mọi người’.

Những gì xảy ra ở Sheffield là một phần của một vấn đề ở tầm quốc gia: Cú lừa của các trường Đại học. Hơn 30 năm qua, các chính quyền nối tiếp nhau, từ Thatcher đến Blair, từ Cameron đến May, đều đã áp dụng các chính sách khuyến khích các trường Đại học một cách phản tác dụng. Hậu quả là tấm bằng Đại học Anh đang ngày càng trở nên lạm phát và kém chất lượng đi. Các tiêu chuẩn học thuật sụp đổ. Ở nhiều cơ sở đào tạo, chính sinh viên là những người đang dạy các trường Đại học chứ không phải ngược lại: các trường cần phải cho điểm như thế nào, và bao nhiêu bài tập là đủ. Natalie Fenton, giáo sư ngành truyền thông của Đại học Goldsmiths, London, nói ‘Không còn cách nào khác, chúng tôi phải tự bảo vệ mình trước khiếu nại của sinh viên. Quá trình làm việc với các sinh viên – những người không thể mua được số điểm mình muốn – kéo dài vô tận’.

Đại học Sheffield, nguồn ảnh từ web trường sheffield.ac.uk

Thoạt nhìn qua, các trường Đại học Anh là niềm tự hào của quốc gia. Số bằng Đại học được họ cấp ngày nay gấp năm lần con số này vào năm 1990, trong đó số bằng tốt nghiệp loại xuất sắc thì gấp bốn lần – từ 7% trong năm 1994 lên 29% năm 2019. Cứ một sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc vào thập niên 90 tương đương với 20 sinh viên như vậy ngày nay. Bằng Thạc sĩ còn phổ biến hơn, nhiều hơn gần gấp 10 lần. Các trường Đại học dường như đã cố gắng xoay sở để phát triển cả về quy mô và chất lượng. Họ làm tất cả, nhưng sự quan tâm dành cho việc giảng dạy còn tương đối hạn chế, trong khi làn sóng thay đổi về cách vận hành của họ đã diễn ra một cách toàn diện. Không một khu vực kinh tế công nào mà sự mở rộng kinh khủng lại tốn kém ít chi phí nhưng lại đạt được nhiều thành tựu đến vậy. Các trường Đại học của chúng ta, ta thường được đảm bảo là ‘Đạt tiêu chuẩn Thế giới’, là mặt hàng xuất khẩu của Anh, khi mà lớp lớp du học sinh quốc tế  đều đổ dồn về học ở Anh quốc.

Việc lạm phát điểm số là hệ quả tất yếu của một hệ thống giáo dục mà các Đại học đang phải vận hành theo. Và có rất ít lí do để nghi ngờ rằng hiện trạng của hệ thống này sẽ thay đổi, hay chí ít là được hiểu thấu đáo. ‘Kết luận logic nhất, dựa vào số liệu hiện nay, đó là đến năm 2061, 100% mọi người sẽ đều tốt nghiệp loại xuất sắc’, phó hiệu trưởng Đại học Buckingham nói. Trên thực tế, nếu như 20 năm tiếp theo có xu hướng giống như 20 năm vừa qua, kết quả vừa rồi sẽ đến chỉ trong nửa thời gian đó.

‘Phép màu’ Đại học này chỉ có thể xảy ra theo một trong ba cách. Cách đầu tiên, đó là các trường phổ thông, trong 30 năm vừa qua, đã cung cấp cho các trường Đại học một lượng học sinh vượt hoàn toàn các tiêu chuẩn trong quá khứ. Đây hẳn sẽ là một thành tựu đáng nể, bởi các sinh viên Đại học trong quá khứ thường là một số nhỏ được tuyển chọn kĩ càng – vào những năm 1970s và 1980s thì khoảng 8% đến 19% người Anh trưởng thành được học Đại học, trong khi con số này là 50% hiện nay. Cách thứ hai có thể là các trường Đại học đã tiếp nhận những sinh viên thờ ơ với lịch sử và biến họ thành những cử nhân tài năng một cách bất ngờ. Và cách thứ ba là hiện thực: phép màu Đại học đích thực là một ảo ảnh.

Đạt chuẩn?

Chưa bao giờ nước Anh lại có nhiều cử nhân ‘đạt chuẩn’ đến thế, và cũng chưa bào giờ tấm bằng Đại học lại có ý nghĩa ít như vậy. Mỗi năm, ngược lại hoàn toàn với việc đào tạo ra các cử nhân với chất lượng cao, nước Anh đang tạo ra lớp lớp những sinh viên dưới chuẩn, những người mà trớ trêu thay, lại thường được đánh giá cao hơn so với năng lực của mình. Theo Robert Penhallurick, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tại Đại học Swansea, viết trong bản báo cáo gửi uỷ bam chuyên trách của Hạ viện về vấn đề giáo dục Đại học vào năm 2009, hiện đang tồn tại ‘sự thiếu hụt long can đảm và sự thất bại trong việc tuân theo những chuẩn mực học thuật lâu đời’. Richard Royl, giảng viên cao cấp về Luật tại Đại học Central Lancashire, tương tự, thêm vào bản báo cáo gửi uỷ ban này ‘Hiện trong giới học thuật đang diễn ra một âm mưu thầm lặng’. Lee Johns, nhà nghiên cứu chính trị học tại Đại học Queen Mary London, cho rằng nếu các chuẩn mực đã thực sự được tôn trọng, chỉ trong 10 năm, đại bộ phận những người đang học đại học chắc chắn sẽ trượt.

Tháng Hai năm 1990, bốn giảng viên thuộc Đại học Swansea gửi một bức thư đến quản lý cấp cao của trường. Họ thực sự quan ngại về các chuẩn mực học thuật của chương trình Thạc sĩ được giảng dạy tại một khoa mới được thành lập của trường – Trung tâm nghiên cứu về Triết học và Sức khoẻ. Họ nói rằng khoá học đầy những lỗ hổng, và tất cả những người trả tiền đều được chấp nhận học. Giáo trình thì vô cùng ngắn gọn và hiếm khi ta bắt gặp tính triết học của nó. Giám đốc của trung tâm chỉ được quyền kiểm soát công việc chấm và cho điểm. Gần như tất cả sinh viên đều đỗ, kể cả hai người bị phát hiện đã đạo văn.

Nhà trường trả đũa bằng việc phát động một cuộc chiến kéo dài ba năm với các giảng viên: Hai trong số họ bị đình chỉ, một người từ chức và người còn lại, Anne Maclean, nói với báo The Guardian: ‘Những gì đang diễn ra thật đáng phẫn nộ. Nếu như chúng ta không thể ngừng việc này lại, thì việc giữ gìn sự liêm chính học thuật của tất cả mọi người đều không xứng đáng’. Cô trở thành giảng viên thứ ba bị đình chỉ. Cuối cùng, sau một loạt các điều tra nội bộ, biên bản kết luận của Anh quốc Xu Mật Viện[1] đã minh oan cho các giảng viên vào tháng Năm năm 1993 và ủng hộ các lập luận của họ. Một trận chiến vì tự do học thuật và chất lượng giáo dục Đại học dường như đã giành thắng lợi.

Đại học Swansea, nguồn ảnh từ web trường swansea.ac.uk

‘Trận chiến Swansea’ hiện giờ được xem như một phát súng cảnh cáo, một tiếng nổ báo hiệu, được dư luận quan tâm rồi quên đi. Nhìn lại từ hiện tại, ta thấy đó là một trận chiến giành quyền kiểm soát, khi mà cán cân quyền lực tại các trường Đại học đang chuyển dời. Sự mâu thuẫn này xảy đến vào những ngày cuối của chính quyền Thatcher, dưới thời Bộ trưởng Bộ Giáo dục Keith Joseph, một trong những kiến trúc sư ban đầu của hệ thống giáo dục Đại học ngày nay. Dưới thời Thatcher và Joseph, các trường Đại học được vận hành như hệ thống công ích thời cổ đại. Các trường học cần phải tuân theo các quy luật của thị trường và phải được đánh giá dựa trên thành tích. ‘Trước Thatcher, các trường Đại học phải hoạt động vì lợi ích của nhân viên trường với tiền của chính phủ’, Terrence Kealey, giáo sư Hoá sinh và cựu cố vấn của Thủ tướng Thatcher nói khi báo chí đưa tin về cái chết của bà này vào năm 2013. ‘Bà ấy rất quyết tâm để thắt chặt quản lý chi tiêu công và khiến cho sinh viên, như những ‘khách hàng’ của giáo dục, phải có trách nhiệm hơn’, ông hồi tưởng lại.

Năm 1985, chính quyền Thủ tướng Thatcher công bố bản Báo cáo Jarratt, trong đó nhấn mạnh rằng ‘Các trường Đại học, trước hết và trên tất cả, là các tập đoàn kinh tế’. Theo bản báo cáo, vấn đề nằm ở ‘truyền thống các phó hiệu trưởng trước hết phải là các học giả và đảm nhận vai trò lãnh đạo một hội đồng học thuật thực hiện đúng chức năng của nó’ thay vì ‘kiểm soát nó một cách mạnh mẽ’. Các học giả nên để việc quản lý trường Đại học cho các doanh nhân.

Việc quản lý của Đại học Swansea hiển nhiên đã thấm nhuần tư tưởng của bản Báo cáo Jarratt. Điều khiến cho các nhà quản lý trường này thực sự bất ngờ không phải là sự yếu kém trong việc đào tạo chương trình Thạc sĩ tại đây, mà là sự ‘xấc xược’ của giới học thuật trong trường. Brian Clarkson, khi ấy là trưởng khoa Triết học, được cho là đã nói ‘Nếu như điều này xảy ra trong một doanh nghiệp, mà trong đó tôi là giám đốc điều hành, những người này chắc chắn sẽ ra đường ngay khoảnh khắc họ bĩnh ra mớ hỗn độn mà họ đã tạo ra’. Trong vòng tám thế kỉ, các trường Đại học Châu Âu đã được vận hành một cách vô cùng dân chủ, trong đó các nhân viên phụ trách kinh doanh hoàn toàn bị kiểm soát bởi ý chí hội đồng học thuật. Trong viễn cảnh mà Thatcher vẽ ra, các Đại học sẽ dựa trên những tiêu chuẩn hoàn toàn trái ngược.

Theo giáo sư Fenton của Đại học Goldsmiths, ‘Các sinh viên đến với chúng tôi ngày nay với tư duy hoàn toàn khác. Họ chỉ muốn nghe xem làm thế nào để ra trường với tấm bằng loại giỏi’. Theo bà, các sinh viên kì vọng rằng ‘họ sẽ được học các ‘mẩu’ kiến thức vừa miệng được đặt nằm sẵn trong các hộp. Đây chính là quy trình họ được học để đạt điểm A* [trong A-level]. Đó là hoàn toàn trái ngược với giáo dục Đại học’. Đúng hơn, ngày xưa là như vậy. ‘Điều đó đã thay đổi’, bà nói, ‘sinh viên không thể thoát khỏi kiểu học ấy’.

Năm 1921, một cuộc điều tra về giáo dục của Chính phủ đã tiên liệu về xu hướng đi xuống này trong việc dạy học. ‘Giáo dục không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức’, Henry Newbolt, nhà sử học Anh và tác giả của bản điều tra viết, ‘Giáo dục được thực hiện không phải bằng cách lưu trữ lại những thông tin chết, mà bằng cách dạy cho học sinh những con đường khác nhau mà từ ấy, họ có thể tự khám phá thế giới’. Học vẹt vẫn là một vấn đề cố hữu mang tính thế kỉ trong các trường phổ thông, và cho đến gần đây, ta vẫn ít bắt gặp nó xuất hiện ở các trường Đại học.

Trong khi việc học phổ thông đã trở nên cứng nhắc hơn và tập trung hơn vào việc thi cử, kiểm tra, căn bệnh này đang lan truyền chóng mặt. Một giáo sư giấu tại một trường Đại học thuộc nhóm Russell Group[2] nói: ‘Đơn giản mà nói, trong các trường học ngày nay, người ta đang phải mớm từng chữ cho học sinh, và họ vẫn đang ăn bằng cách này’.

‘Học sinh đang không được dạy cách đọc, đọc nhanh và một cách phản biện, hay cách để trình bày ý tưởng của mình’, Jones nói thêm, ‘Trường học đang không dạy các em những thứ nền tảng nhất. Chúng ta bắt học sinh phải viết, và các em hết sức mất phương hướng. Trong khi đó, những học sinh có chuẩn bị lại cực kì rối trí’.

Bằng chứng duy nhất cho thấy các trường phổ thông đang đào tạo ra một số lượng kỉ lục những học sinh xuất sắc chính là sự đi lên của điểm A-level. Tuy nhiên, đến năm 2009, sự lạm phát điểm A-level đã trở nên quá rõ ràng đến mức một mức điểm mới phải được đưa ra vàp năm học sau đó – điểm A*. Trớ trêu thay, trong khi đang tự duy trì sự lạm phát điểm số của chính mình, chính các trường Đại học lại đòi hỏi phải làm chặt mức điểm đang bị cao thái quá ở các trường phổ thông. Trớ trêu thay, trên website của mình, một trường Đại học thuộc nhóm Russell Group lại dùng điểm lạm phát của A-level để biện minh cho sự lạm phát của chính mình. ‘Bởi vì kết quả phổ thông cao lên, việc kì vọng xu hướng này tiếp tục ở trình độ cử nhân là hợp lý’, giám đốc chính sách của trường này viết vào tháng 7 năm ngoái. Năm 2007, Robert Coe, lúc đó là giáo sư ngành Giáo dục học tại Đại học Durham, chỉ rõ quy mô của vấn đề. Nghiên cứu của giáo sư Coe so sánh kết quả  của các sinh viên với khả năng thiên bẩm tương đương nhau qua thời gian. Sử dụng một bài kiểm tra chuẩn hoá gần giống với IQ, ta có thế thấy cách mà các sinh viên tương được nhau được cho điểm khác nhau ở trình độ A-level. Kết quả được chuyên gia này chỉ ra thật đáng giật mình. Những người được điểm D và E vào những năm 1980 đã được cho điểm B và C vào cuối những năm 2000. Học sinh Anh không hề giỏi hơn đáng kể theo các tiêu chuẩn quốc tế ở thời điểm đó, và bây giờ cũng vậy.


[1] Privy Council, trên lý thuyết là cơ quan cố vấn tối cao cho Nữ hoàng Anh

[2] Nhóm 26 trường Đại học tốt nhất nước Anh, ngoại trừ Oxford và Cambridge

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s